AI Truyện
Tiếng kẻng điểm danh ở lô Ông Cai

🕯️ Truyện ma kinh dị

Lô ma

Tiếng kẻng điểm danh ở lô Ông Cai · Chương 8/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Lô ma

Sáng hôm sau, cửa chòi canh khoá bằng một ổ khoá đồng gỉ sét, ông Tư Khuyết không có ở đó. Khuê tới nhà ông ở cuối xóm, căn nhà ván lợp tôn có giàn bầu trước sân. Con dâu ông ra mở cổng, tay còn bế đứa nhỏ, nói ba chồng chị đi Đồng Xoài khám mắt rồi, chiều tối mới về. Khuê nhìn qua vai chị ta, thấy đôi ủng cao su gai xương cá dựng ngay bậc cửa, đế còn dính đất đỏ tươi.

Cô không nói gì, chỉ gật đầu, cảm ơn, đi về.

Ông Tư không muốn gặp cô. Câu nói đêm qua, ông đã nói rồi, ông không lấy lại được, nên ông trốn.

Nó nằm đó. Nó nằm ở cuối hàng.

Khuê đi bộ dọc con đường đất, đầu óc quay cuồng. Cô nhớ tới cái thẻ nhôm biến mất trên thân cây thứ ba mươi bảy, chỉ còn cái lỗ đinh rỉ mủ. Cô nhớ tới con số trên bản đồ năm sáu hai, ba mươi sáu chấm đen. Cô nhớ tới tiếng con gái đáp có từ chỗ khúc quanh của con suối, nơi không có đốm đèn nào.

Cuối hàng. Khúc quanh. Cây thứ ba mươi bảy.

Cô đi thẳng tới quán nước đầu làng.

Bà Năm Thoa đang ngồi bóc bắp luộc trong một cái thau nhôm, thấy Khuê thì ngẩng lên, cười, nhưng cái cười tắt ngay khi bà thấy mặt cô.

– Bà Năm, – Khuê ngồi xuống ngay cái ghế đối diện, không đợi mời. – Bà kể cho con nghe về lô ma đi.

Cái trái bắp trên tay bà Năm rơi xuống thau, đánh bịch.

– Lô ma gì con?

– Lô Ông Cai. Năm tám tư, tám lăm. Đội 4 báo thanh lý mà vẫn cạo lén. Mủ bán ra ngoài, đổi gạo về chia. Ông Năm nhà bà ở đội 4, đúng không bà?

Bà Năm nhìn quanh. Quán vắng, chỉ có một bà bán vé số đang ngồi ở góc trong cùng, ngủ gà ngủ gật. Bà Năm cúi xuống, giọng rít qua kẽ răng:

– Ai nói với mày?

– Hồ sơ của công ty nói. Sản lượng của đội 4 hai năm đó, con coi rồi. Ông Tư Khuyết nói.

– Thằng Khuyết… – Bà Năm lắc đầu, lẩm bẩm. – Thằng Khuyết uống rượu vô là cái miệng nó…

Bà im một lúc, nhìn xuống thau bắp. Rồi bà thở ra, một hơi thở dài, nặng nề, như người đặt một gánh nặng xuống sau một quãng đường xa.

– Ừ. Có. Lô ma. – Bà nói. – Mà tao nói cho mày biết, con Khuê. Không ai trong cái làng này thấy xấu hổ vì chuyện đó. Mày không sống mấy năm đó, mày không biết. Ông nội mày là người tốt. Ổng làm vậy là để cả đội có cơm ăn. Nhà nào trong đội 4 cũng nhờ lô đó mà con cái khỏi chết đói. Thằng Thanh nhà tao, nhờ mấy ký gạo đó mà nó sống qua được cái mùa sởi năm tám lăm. Tao không xấu hổ.

– Con không trách ai hết bà Năm.

– Vậy mày hỏi làm gì?

– Con hỏi về cô Nhạn.

Bà Năm ngồi im. Một con ruồi đậu lên trái bắp trong thau, bà cũng không đuổi.

– Cô Nhạn có cạo lô ma không bà?

– Có. – Bà Năm nói khẽ. – Con Nhạn với thằng Hưng ba mày. Hai anh em chia ca với mấy người lớn. Mà con Nhạn siêng lắm, nó cạo đẹp nhất đội. Đường cạo của nó mỏng như lá lúa, không bao giờ phạm vô gỗ. Mấy ông già trong đội ai cũng khen.

– Cái gáo dừa ba khấc…

– Ờ, gáo của nó. Nó khắc để mỗi sáng đi trút mủ khỏi lộn với gáo của người khác. Nó là đứa con gái kỹ.

Khuê hít vào, giữ hơi trong ngực một lúc rồi mới hỏi câu tiếp theo.

– Năm tám lăm, cô Nhạn đi Sài Gòn. Bà có thấy cô đi không bà?

Bà Năm không trả lời ngay. Bà nhặt trái bắp lên, bóc tiếp, nhưng ngón tay bà lóng ngóng, bóc mãi không ra một lớp vỏ.

– Không. Không ai thấy. Sáng ra là nó đi rồi.

– Nó để lại thư.

– Ờ. Lá thư. – Bà Năm gật. – Ông nội mày đem ra cho cả xóm coi. Thư nói nó theo thằng tài xế xe tải chở mủ, lên Sài Gòn làm ăn, đừng ai đi kiếm. Ông nội mày cầm lá thư đó, mặt mày tím tái, đi từng nhà, đưa từng người coi. Ai coi rồi thì gật đầu, nói con nhỏ hư, rồi thôi.

– Bà có coi không bà Năm?

– Có.

– Đó có phải chữ cô Nhạn không?

Câu hỏi rơi vào khoảng không. Bà Năm ngừng bóc bắp. Bà ngẩng lên, nhìn Khuê, và trong cặp mắt đục ngầu của bà, Khuê thấy một cái gì đó mà cô không ngờ tới. Không phải sợ hãi. Không phải giận dữ. Mà là nhẹ nhõm. Cái nhẹ nhõm của một người đã chờ ai đó hỏi câu này suốt bốn mươi mốt năm.

– Không phải, – bà Năm nói. – Con Nhạn học tới lớp chín, chữ nó tròn như hột đậu, nắn nót lắm. Mấy đứa nhỏ trong đội hay nhờ nó viết thư cho người yêu ngoài Bắc. Lá thư đó chữ nghiêng nghiêng, gạch đuôi dài, nét cứng. Tao coi là tao biết liền. Mà tao không nói.

– Sao bà không nói?

– Vì đêm đó, ông Năm nhà tao không ngủ ở nhà. – Bà Năm nhìn ra ngoài đường, nơi nắng đã lên gay gắt, phản chiếu trên mặt đất đỏ chói loà. – Đêm đó mưa giông lớn lắm. Ổng đi ca lô ma từ một giờ khuya. Thường thì bốn giờ ổng về. Đêm đó, gần sáu giờ ổng mới về, mình mẩy ướt nhẹp, áo quần dính đầy đất đỏ, đất bết tới tận cổ, hai bàn tay trầy trụa hết. Ổng không nói một tiếng nào. Ổng đi thẳng ra sau giếng, dội nước, rồi vô nằm. Ổng sốt ba ngày ba đêm. Trong lúc sốt, ổng nói mê. Ổng nói, nặng quá, khiêng không nổi. Ổng nói, con nhỏ còn ấm. Ổng nói, đừng để má nó coi.

Khuê nghe tai mình ù đi. Tiếng xe máy chạy qua ngoài đường, tiếng gà trong bụi, tiếng bà bán vé số ngáy khò khò, tất cả lùi ra xa, xa thật xa.

– Ổng sốt xong, tao có hỏi, – bà Năm nói tiếp. – Ổng tát tao một cái. Lần đầu tiên trong đời ổng đánh tao. Rồi ổng nói, từ đây về sau, con Nhạn đi Sài Gòn. Đi Sài Gòn. Mày mà nói khác, cả đội 4 đi tù, thằng Thanh với hai đứa kia không ai nuôi. Tao sợ. Tao không nói. Tao không nói bốn mươi mốt năm. Ổng chết năm hai ngàn mười, tới lúc chết cũng không nói thêm một lời nào.

– Ông Tư Khuyết mất hai ngón tay đêm đó phải không bà?

– Ờ. Sáng ra thấy tay nó băng một cục giẻ đỏ lòm. Nó nói dao phạt cây trúng. Mà đêm đó đội 4 đâu có phạt cây.

Bà Năm đưa tay quẹt ngang mắt. Bàn tay bà dính đầy râu bắp.

– Con Khuê, mày nghe tao. Tao không biết đêm đó chuyện gì xảy ra. Tao thề với mày, tao không biết. Tao chỉ biết con Nhạn không đi Sài Gòn. Con Nhạn không bao giờ bỏ má nó mà đi. Nó thương má nó nhất trên đời.

Khuê đứng dậy. Cô để tờ năm chục ngàn trên bàn, quên mất mình chưa uống ly nước nào.

– Con Khuê, – bà Năm gọi với theo. – Mày tính làm gì?

Cô quay lại. Cô không biết mình tính làm gì. Cô chỉ biết một điều, rõ ràng như con số trên máy định vị.

– Con tính đếm lại hàng mười chín, bà Năm.

Tối hôm đó, Khuê lại ra chòi canh. Lần này cô đi lúc hai giờ rưỡi sáng, mang theo một bịch bánh ít mua ở quán bà Năm và một chai nước suối. Cô không biết vì sao mình mang theo bánh ít. Có lẽ vì hồi nhỏ, nội dạy cô tới nhà ai thì đừng đi tay không.

Cửa chòi mở. Đèn dầu sáng. Ông Tư ngồi trên võng, mặc bộ đồ bảo vệ, đôi ủng gai xương cá dưới chân, cái đèn đội đầu cầm trên tay. Ông không ngạc nhiên khi thấy cô. Có lẽ ông đã đoán cô sẽ tới.

– Ngồi đi, – ông nói. Giọng ông tỉnh, không có mùi rượu.

Khuê ngồi xuống cái ghế đẩu. Cô đặt bịch bánh ít lên bàn. Ông Tư nhìn bịch bánh một lúc lâu, rồi khẽ cười, cái cười méo xệch.

– Bánh ít lá gai. Con Nhạn thích món này.

– Ông Tư. Con biết rồi. Bà Năm kể cho con nghe chuyện ông Năm Bưởi. Cô Nhạn không đi Sài Gòn. Cô nằm ở cuối hàng mười chín.

Ông Tư cúi đầu. Cái đèn đội đầu trên tay ông xoay xoay.

– Tao không kể được, – ông nói. – Không phải tao không muốn. Mà có người còn sống. Tao kể ra, người đó không sống nổi.

– Ai?

Ông lắc đầu.

– Ông Tư, ông giữ bốn mươi mốt năm rồi. Ông gõ kẻng bốn mươi mốt năm rồi.

– Ờ. – Ông Tư nhìn ra ngoài, về phía bóng tối dưới chân đồi. – Đêm nào tao cũng gõ. Tao nghĩ, tao không làm được gì cho nó, thì ít ra tao gõ kẻng cho nó biết giờ. Cho nó khỏi trễ ca. Con nhỏ đó chưa trễ ca bữa nào.

Ông đặt cái đèn đội đầu xuống bàn, cạnh bịch bánh ít.

– Mà tối nay tao không đi gõ nữa.

– Sao vậy ông?

– Gõ làm chi nữa, con. Bốn mươi mốt năm. Nó vẫn nằm đó. Ổng vẫn điểm danh tụi nó. Tụi nó vẫn cạo. Tao gõ hay không gõ thì cũng vậy. – Ông nhìn cái đồng hồ điện tử cũ trên cổ tay. – Hai giờ năm mươi tám. Tao già rồi. Tao mệt rồi. Tao muốn ngủ một đêm cho trọn.

Khuê nhìn ông. Ông ngồi đó, hai bàn tay đặt trên đùi, một bàn tay năm ngón, một bàn tay ba ngón. Ông không đứng dậy. Ông không với lấy cái đèn. Ông chỉ ngồi im, nhìn kim giây trên mặt đồng hồ nhích từng nấc.

Hai giờ năm mươi chín.

Gió đổi chiều. Tán gòn trên đầu xào xạc. Ngọn đèn dầu run lên.

Ba giờ.

Từ phía bắc làng, xa tít bên kia những lô cao su, qua cả một quãng đồi dài hơn cây số, tiếng kẻng vang lên. Khô, mỏng, rõ ràng trong đêm tĩnh. Một. Hai. Ba. Bốn. Năm. Sáu. Bảy.

Ông Tư Khuyết không nhúc nhích. Chỉ có mặt ông, trong ánh đèn dầu, trắng bệch ra như tờ giấy.

Một. Hai. Ba. Bốn. Năm. Sáu. Bảy.

Khuê nhìn ông. Ông nhìn ra bóng tối.

Một. Hai. Ba. Bốn. Năm. Sáu. Bảy.

Tiếng kẻng tắt. Im lặng đổ xuống như một tấm chăn ướt.

– Lần đầu tiên, – ông Tư thì thầm, môi run bần bật. – Bốn mươi mốt năm, lần đầu tiên nó tự gõ.

— Hết chương 8 —

Mục lục Tiếng kẻng điểm danh ở lô Ông Cai

  1. 1Ba hồi kẻng10 phút đọc
  2. 2Hàng mười chín10 phút đọc
  3. 3Cái giá của một lô đất trống10 phút đọc
  4. 4Gáo dừa ba khấc10 phút đọc
  5. 5Ba mươi sáu cái thẻ đồng10 phút đọc
  6. 6Những ngọn đèn đội đầu10 phút đọc
  7. 7Người gõ kẻng9 phút đọc
  8. 8Lô ma9 phút đọc
  9. 9Cây thứ ba mươi bảy10 phút đọc
  10. 10Con số trong hồ sơ năm tám sáu10 phút đọc
  11. 11Chiếc máy múc đầu tiên10 phút đọc
  12. 12Đêm chiếu phim ở Làng Sáu9 phút đọc
  13. 13Có mặt10 phút đọc
  14. 14Người trồng cây9 phút đọc
  15. 15Ba người trong một hàng cây9 phút đọc
  16. 16Áp thấp9 phút đọc
  17. 17Ba hồi kẻng cuối9 phút đọc
  18. 18Điểm danh9 phút đọc
  19. 19Những gì đất trả lại9 phút đọc
  20. 20Mùa thay lá9 phút đọc

Về truyện này

Tiếng kẻng điểm danh ở lô Ông Cai là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →