Chương 7: Người gõ kẻng
– Lên. Bám vô rễ cây mà lên. Đừng nhìn xuống.
Giọng ông Tư Khuyết khàn đặc, hơi thở phả xuống mặt Khuê mùi rượu đế với mùi thuốc rê. Ông nằm sấp trên mép rãnh, một tay nắm cổ tay cô, tay kia bấu vào một cái rễ cao su to bằng bắp chân trồi lên khỏi mặt đất. Khuê đạp chân vào vách đất, trượt, đạp lần nữa, rồi cũng trèo được lên. Cô nằm vật ra trên lớp lá khô, thở dốc, ngực đau nhói.
Những đốm đèn đã tắt. Tất cả. Xung quanh chỉ còn bóng tối đặc quánh, và quầng sáng vàng nhạt từ cái đèn đội đầu trên trán ông Tư.
– Ông… – Khuê thều thào. – Hồi nãy… ông có thấy…
– Đứng dậy. Đi theo tao. Đừng nói gì hết cho tới khi qua cầu.
Ông đỡ cô dậy, lượm cái đèn pin dưới đáy rãnh lên bằng một cây sào tre ông mang theo, dúi vào tay cô. Rồi ông đi trước, không rọi đèn vào hàng cây, chỉ chiếu xuống đất ngay trước mũi ủng. Khuê đi sau, cũng chiếu đèn xuống đất. Cô không dám nhìn sang hai bên. Cô nghe tiếng mủ nhỏ giọt vào gáo dừa, tách, tách, đều đặn như tiếng đồng hồ, suốt dọc đường ra tới cầu.
Qua cầu rồi, ông Tư mới dừng lại, thở ra một hơi rất dài.
Ông dẫn cô lên con dốc, rồi rẽ vào một lối mòn nhỏ chạy men theo sườn đồi phía trên lô Ông Cai. Ở cuối lối mòn, dưới một tán cây gòn già, có một cái chòi canh vách tôn, mái lá, rộng chừng hai mét vuông. Trong chòi có một cái võng dù, một cái bàn con đóng bằng ván thùng, một cây đèn dầu, một cái radio nhỏ, một chai nhựa đựng rượu đế đã vơi phân nửa. Trên vách tôn treo một bộ áo mưa, một cái rựa, một sợi dây thừng.
Ông Tư thắp đèn dầu. Ánh lửa vàng đục rọi lên khuôn mặt nhăn nheo, đen sạm của ông, rọi lên cặp mắt đỏ quạch. Ông rót rượu ra hai cái chén mẻ, đẩy một chén về phía Khuê.
– Uống đi. Cho ấm.
Khuê cầm chén rượu, tay run tới mức rượu sóng sánh ra ngoài. Cô uống một hơi. Rượu cay xé cổ họng, lan xuống ngực như một sợi dây nóng.
– Ông thấy chúng nó, – cô nói. – Mấy cái đèn. Ông cũng thấy.
– Bốn mươi mốt năm rồi, sao mà không thấy.
– Bốn mươi mốt năm…
Ông Tư không trả lời. Ông ngồi xuống cái võng, hai chân chống xuống đất, lắc nhè nhẹ. Cái bàn tay ba ngón của ông đặt trên đầu gối, mấy ngón còn lại co duỗi liên tục như người đang đếm thầm.
– Cái kẻng, – Khuê nói. – Ông gõ phải không?
Ông nhìn cô. Rồi ông gật đầu.
– Tao gõ.
Cô đã đoán ra từ lúc thấy cái bàn tay thò xuống rãnh, nhưng nghe chính miệng ông nói, cô vẫn thấy ngực mình hẫng đi một nhịp. Có người gõ kẻng. Một ông già bảy mươi tuổi, đi ủng, đội đèn, đêm nào cũng lội năm trăm mét qua rặng tre tới đầu dãy nhà phu bỏ hoang, gõ ba hồi kẻng lúc ba giờ sáng.
– Hồi nãy con núp trong dãy nhà. Con thấy đèn tới cột kẻng. Rồi kẻng vang. Con chạy ra thì không thấy ai hết.
– Mày rọi đèn pin ra thì tao đã lùi ra sau cột, vô bóng rặng tre, tắt đèn rồi. – Ông Tư nói bình thản. – Bốn chục năm tao đi đường này, nhắm mắt cũng đi. Rồi tao xuống lô. Mày chạy theo đèn tao tới cầu. Qua cầu tao đi vô đầu hàng một đoạn, tắt đèn, đứng nép sau gốc cây coi. Tao định để mày đứng ở đầu cầu một hồi, sợ rồi tự về. Ai dè mày lại đi vô.
– Vậy mấy cái đèn kia…
– Không phải tao.
– Mấy vết cạo…
– Không phải tao. – Ông giơ bàn tay ba ngón lên, xoè ra dưới ánh đèn dầu. – Từ năm tám lăm, tao không cầm dao cạo nữa. Cầm không được. Cầm là tay run.
Khuê nhìn cái bàn tay ấy. Chỗ hai ngón cụt liền da, bóng lên như sáp.
– Ông Tư. Sao ông gõ kẻng?
Ông Tư im lặng rất lâu. Ông rót thêm rượu cho mình, uống cạn, rồi lại rót. Ngoài kia, gió đổi chiều, lùa qua tán gòn nghe xào xạc như tiếng người thì thầm.
– Để tụi nó biết giờ, – cuối cùng ông nói.
– Tụi nó là ai?
– Mày biết rồi. Bà nội mày kể rồi. Cái xâu thẻ đồng rơi xuống từ xà nhà bây, cả làng biết rồi.
Khuê không ngạc nhiên. Chiều hôm đó thím Thơm đứng bên kia hàng rào dâm bụt, thấy hết. Ở Làng Mười, một cái thẻ đồng rơi xuống lu nước lúc chiều thì tới tối đã thành chuyện của cả làng.
– Ông cố con, – cô nói. – Ổng đáp có cho ba mươi sáu người chết. Để lãnh gạo.
– Ờ. Mà người ta nói, cái gì mình ăn của người chết, người chết sẽ đòi lại. – Ông Tư nhìn ngọn đèn dầu. – Ông cố mày trả bằng cái mạng. Ổng chết rồi mà tụi nó vẫn chưa chịu thôi. Ba giờ sáng nào cũng đứng ở lô đó, chờ điểm danh. Mà ông cố mày chết rồi, ai đáp cho tụi nó nữa? Thì tụi nó tự đáp. Đáp xong, tụi nó cạo mủ. Cạo cho đủ phần, cho đồn điền khỏi cắt gạo.
– Tụi nó cạo cái gì? Hồi đó lô này đâu phải cây bây giờ. Cây bây giờ trồng năm sáu hai.
– Cây nào cũng là cây, – ông Tư nói, như thể đó là chuyện hiển nhiên. – Hàng mười chín trồng ngay trên cái gò chôn tụi nó. Ba mươi sáu cây. Không ai cố ý. Người vẽ bản đồ chỉ tính đất, tính hàng, tính khoảng cách. Mà xui sao, trồng xong, đếm lại, đúng ba mươi sáu cây. Từ năm sáu hai, người già trong làng đã không ai dám cạo hàng đó.
Khuê nghĩ tới cái lô ma, tới những năm tám tư, tám lăm, tới cột số sản lượng trong hồ sơ Kiên tìm ra.
– Nhưng tới năm tám tư, đội 4 lại cạo, – cô nói. – Cạo lén. Ông cũng ở đội 4 đúng không ông Tư? Ông cũng cạo.
Bàn tay ba ngón của ông Tư siết chặt lại trên đầu gối.
– Năm đó đói, con, – ông nói khẽ. – Mày không biết đói là sao đâu. Nhà tao năm miệng ăn, mỗi tháng tem phiếu được có mười mấy ký gạo, còn lại ăn bo bo, ăn khoai mì. Thằng con trai út tao suy dinh dưỡng, bụng ỏng đít beo, tóc rụng lơ thơ. Ông nội mày làm đội trưởng, ổng nhìn công nhân của ổng đói, ổng không chịu được. Ổng làm tờ trình xin thanh lý lô Ông Cai. Trên giấy thì cây bệnh, nghỉ cạo. Ngoài đời thì đội 4 chia ca, đêm nào cũng có hai ba đứa vô cạo. Mủ đem ra ngoài bán cho lái buôn, đổi gạo về chia đều.
– Cạo luôn hàng mười chín?
– Hàng mười chín ai cũng né. – Ông Tư lắc đầu. – Mười tám hàng kia đủ rồi. Người già dặn kỹ, đừng đụng hàng sát suối.
– Nhưng có người đụng.
Ông Tư không trả lời. Ông với chai rượu, rót. Lần này rượu tràn ra ngoài chén, chảy xuống bàn, ông cũng không lau.
– Ông Tư, – Khuê nói chậm. – Mấy cái gáo dừa trên hàng mười chín có ba khấc. Bà nội con nói đó là gáo của cô Nhạn.
– Thôi. – Ông Tư đứng dậy. Cái võng đung đưa, đập vào vách tôn kêu loảng xoảng. – Khuya rồi. Mày về đi. Tao đưa mày ra tới đầu dốc.
– Ông Tư.
– Tao nói về đi!
Khuê không đứng dậy. Cô ngồi đó, nhìn ông, cố giữ giọng cho bình tĩnh.
– Ông gõ kẻng bốn mươi mốt năm. Từ năm tám lăm. Năm cô Nhạn bỏ đi. Ông nói ông không cầm dao cạo từ năm tám lăm. Ông mất hai ngón tay năm nào hả ông Tư?
Ông Tư đứng sững giữa chòi. Ánh đèn dầu chập chờn trên mặt ông, khiến những nếp nhăn sâu như những vết dao. Rồi ông ngồi phịch xuống võng, như cái chân không chống nổi cái người nữa.
Ông nhìn Khuê, nhưng không phải nhìn cô. Ông nhìn qua cô, nhìn ra ngoài cửa chòi, về phía lô Ông Cai chìm trong bóng tối dưới chân đồi. Mắt ông đục đi, mờ đi, như mắt người say. Mà có lẽ ông say thật. Chai rượu đã vơi tới đáy.
– Hồi nãy, – ông nói, giọng nhỏ và lạ, như đang nói với một ai khác. – Hồi nãy lúc điểm danh, con Nhạn có lên tiếng không?
Khuê lạnh toát sống lưng.
– Ông nói gì?
– Con Nhạn. Có đáp không? – Ông Tư nghiêng người về phía cô, gấp gáp. – Hồi nãy tao lo kéo mày, tao không nghe. Tao sợ nó giận. Tao gõ kẻng đúng giờ mà. Đêm nào cũng đúng giờ.
– Ông Tư… cô Nhạn đi Sài Gòn mà. Năm tám lăm cô bỏ đi theo tài xế xe tải. Cả làng nói vậy.
Ông Tư nhìn cô. Ông chớp mắt một lần, hai lần. Cái nhìn mờ đục bỗng sắc lại, như người vừa bị tạt nước vào mặt.
– Đi đâu? – Ông nói. Giọng ông vỡ ra. – Đi đâu mà đi. Nó nằm đó.
Ngọn đèn dầu trên bàn phụt một cái, ngọn lửa co lại thành một chấm xanh lét, rồi bùng lên trở lại.
Ông Tư vụt đưa tay bịt miệng mình, bàn tay ba ngón ép chặt lên môi như muốn nhét câu nói vừa rồi trở lại vào trong. Ông lắc đầu, lắc mạnh, mắt mở trừng trừng.
– Tao say rồi. Tao nói bậy. Mày về đi. Về đi!
Khuê đứng dậy. Hai đầu gối cô mềm như bún. Cô bước ra khỏi chòi, ra dưới tán cây gòn. Bóng tối dưới chân đồi đặc quánh, lô Ông Cai chỉ là một khối đen thẫm, không một đốm sáng.
Sau lưng cô, trong chòi, ông Tư Khuyết bắt đầu khóc. Tiếng khóc của một ông già bảy mươi tuổi, khàn, đứt quãng, như tiếng một con thú bị thương.
– Nó nằm đó, – ông lặp đi lặp lại, giữa những tiếng nấc. – Bốn mươi mốt năm. Nó nằm ở cuối hàng. Nó nằm đó.
— Hết chương 7 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe