Chương 5: Ba mươi sáu cái thẻ đồng
Cái bọc rơi xuống từ xà nhà lúc ông Hưng đang gõ đinh vá mái tôn, rơi đúng vào cái lu nước sau hè, kêu đánh xoảng một tiếng, nặng như một nắm sỏi.
Chiều hôm đó trời đổ mưa giông. Mưa miền Đông mùa này không rơi mà trút, trút thẳng đứng, nặng hạt, kèm theo những cơn gió giật quất ngọn cao su ngả rạp. Mái nhà nội vốn đã thủng một lỗ, sau trận gió đầu cơn lại bung thêm một tấm tôn ở góc sau. Nước đổ ào xuống chỗ kê cái tủ gạo. Ông Hưng, từ sáng tới giờ vẫn ngồi lì bên giường bà nội không nói một lời, đứng bật dậy, vác cái thang tre ra sau hè, leo lên.
Khuê đứng dưới giữ thang, mưa quất vào mặt rát như roi. Ông Hưng nằm ép người trên mái, một tay níu cây xà gồ, một tay cầm búa. Cây xà chính của căn nhà là một thân gỗ căm xe đen bóng, từ hồi ông cố cất nhà tới giờ chưa ai thay. Lúc ông Hưng với tay kéo tấm tôn bung về chỗ cũ, ông đụng vào một cái hốc nhỏ khoét ở đầu xà, chỗ cây xà gối lên vách. Một cái bọc vải dầu đen sì rơi ra.
Khuê với tay vào lu nước, mò lên. Bọc vải dầu đã mục, rách toạc một góc. Bên trong, những mảnh kim loại nhỏ va vào nhau leng keng.
Cô mở ra ngay dưới mái hiên, trong ánh sáng xám xịt của buổi chiều mưa.
Đó là những cái thẻ đồng. Mỗi cái cỡ hai đốt ngón tay, hình chữ nhật bo góc, dày chừng một li, đã xỉn màu xanh rỉ đồng. Một đầu thẻ đục lỗ. Cả xấp được xâu vào một sợi dây kẽm gỉ sét, vặn xoắn hai đầu. Trên mặt mỗi thẻ có đóng chìm mấy chữ cái Khuê không đọc ra vì đã mòn, và một con số, bốn chữ số, đóng sâu, rõ ràng.
Cô đếm. Ba mươi sáu cái.
Ông Hưng leo xuống, ướt như chuột lột. Ông nhìn xấp thẻ trên tay cô, và Khuê thấy mặt ông đổi màu. Không phải tái. Mà xám xịt lại, như một người vừa nghe tin dữ mà mình đã chờ suốt đời.
– Ba biết cái này, – cô nói.
– Không.
– Ba biết.
Ông Hưng đưa tay vuốt nước mưa trên mặt. Tay ông run.
– Hồi nhỏ, má tao dặn đừng ai đụng vô đầu xà phía sau, nói bà cố Hai trước khi mất có dặn vậy. Tao tưởng bà sợ mối. – Ông nhìn ra màn mưa. – Thẻ phu. Hồi Tây, phu cao su ai cũng có một cái. Đeo ở cổ. Điểm danh thì đọc số, không đọc tên.
– Ba mươi sáu cái.
– Ờ.
– Ba mươi sáu cây ở hàng mười chín, theo bản đồ cũ.
Ông Hưng không trả lời.
Trong buồng, có tiếng bà nội gọi. Giọng bà khàn khàn nhưng rõ ràng, tỉnh táo hơn mọi lần.
– Đem vô đây cho má coi.
Bà nội nằm trên giường, lưng kê hai cái gối, cái mền mỏng đắp ngang bụng. Sáng nay ông y sĩ trạm y tế xã đã tới khám, nói bà kiệt sức, huyết áp hơi thấp, cho uống thuốc bổ, dặn nằm nghỉ, không đi đâu. Ông y sĩ không giải thích được lớp mủ cao su trên tay bà. Khuê đã phải lấy dầu ăn kỳ cọ gần nửa tiếng mới sạch.
Khuê đặt xâu thẻ đồng vào tay bà nội. Bà không nhìn. Bà sờ. Ngón tay cái của bà lướt qua từng cái thẻ, chậm rãi, như người lần tràng hạt.
– Của ông cố mày, – bà nói. – Ổng ăn gạo của người chết.
Ngoài kia mưa vẫn trút trên mái tôn, tiếng ầm ầm như có cả trăm người đang chạy trên đầu. Khuê kéo cái ghế đẩu ngồi xuống cạnh giường. Ông Hưng đứng ở cửa buồng, lưng tựa vào khung cửa, hai tay khoanh trước ngực.
– Má về làm dâu nhà này năm năm tám, – bà nội bắt đầu. – Ông cố mày chết lâu rồi, chỉ còn bà cố Hai. Bà cố là người ở đây, không phải phu ngoài Bắc vô. Cha mẹ bả có mấy công ruộng dưới chân đồi, bị đồn điền lấy đất trồng cao su. Bả lấy ông cố là lấy một ông cai. Ai cũng nói bả sướng.
Bà nội ho một tràng. Khuê đưa ly nước. Bà uống một ngụm nhỏ.
– Mấy năm đầu má về, bà cố Hai không nói gì với má hết. Tới năm sáu hai, bả bịnh nặng, biết mình sắp đi, bả mới kể. Kể cho mình má nghe. Bả dặn má giữ trong bụng, đừng để thằng Tảo biết. Mà ông nội mày biết rồi, biết từ nhỏ. Cả làng này người già ai cũng biết. Chỉ có mấy đứa nhỏ tụi mày là không.
– Bà cố kể gì nội?
– Hồi đó, mấy năm bốn ba, bốn bốn, bốn lăm, sốt rét dữ lắm. Phu ngoài Bắc vô, không quen nước, không quen muỗi, chết như rạ. Đội của ông cố mày có bốn chục người, trong hai năm chết ba mươi sáu. – Ngón tay bà nội dừng lại trên một cái thẻ. – Chết thì chôn ở cái gò bên suối. Không có hòm, quấn chiếu. Người chết là đồn điền phải xoá tên trong sổ, phải thôi phát gạo. Ông cố mày không xoá.
Khuê nghe thấy tiếng ông Hưng thở ra, nặng nề.
– Ổng giữ thẻ của người chết. Sáng nào ba giờ, kẻng điểm danh, ông chủ người Tây đứng ở đầu dãy nhà, thầy ký đọc số, phu đáp có. Tới số của đội ông cố mày, ổng đứng ra đáp. Đáp cho người sống, đáp luôn cho người chết. Thầy ký đọc tới số nào ổng cũng có. Có, có, có. Tối đen như mực, ai mà nhìn ra mặt ai. Thầy ký thì đã được ổng chia phần. Gạo của người chết ổng lãnh về, đem bán. Hai năm. Ba mươi sáu người chết, ổng lãnh gạo cho ba mươi sáu người chết.
– Rồi tới khi nào thì thôi?
– Tới khi đồn điền rối loạn, chủ Tây bỏ đi, sổ sách lung tung, không còn ai điểm danh nữa. – Bà nội nhắm mắt lại. – Bà cố Hai nói, từ đó, đêm nào ông cố mày cũng không ngủ được. Ba giờ sáng là ổng ngồi bật dậy. Ổng nói ổng nghe kẻng. Mà cây kẻng đầu dãy, hồi đó, đâu còn ai gõ. Ổng nói có người gọi số. Gọi số của tụi nó. Không ai đáp, nên ổng phải đáp. Ổng đi ra lô bên suối, đứng đó, đáp có cho từng đứa. Đêm nào cũng đi. Tới đêm năm năm mốt, sáng ra người ta thấy ổng ngồi chết ở gốc cây sát suối, tay cầm dao cạo. Thẻ đồng còn trong túi áo. Bà cố Hai lấy về, giấu lên xà, không dám bỏ, không dám chôn, cũng không dám đem trả.
Một tia chớp loé lên ngoài cửa sổ, soi trắng căn buồng. Rồi tiếng sấm nổ ngay trên đầu, rung bần bật mấy cái ly trên bàn.
– Trả cho ai, nội? – Khuê hỏi khẽ.
Bà nội mở mắt.
– Trả cho tụi nó. Mà tụi nó là ai? Không ai biết tên. Thẻ chỉ có số. Sổ của đồn điền mất hết rồi. Ba mươi sáu người chết ở xứ lạ, quấn chiếu chôn ở một cái gò, rồi người ta trồng cao su lên trên. Không mồ, không mả, không bia, không tên. Chỉ còn mấy con số đóng trên miếng đồng.
Khuê nhìn xâu thẻ trên tay bà nội. Những con số. Cô nhớ tới giọng đàn ông khàn khàn đêm đầu tiên, đọc chậm từng con số. Và những tiếng đáp. Có. Có. Có.
– Đêm đó con nghe có người đọc số, – cô nói. – Giọng đàn ông.
– Ờ. – Bà nội gật đầu, như chuyện đó là chuyện hiển nhiên nhất đời. – Ổng vẫn còn đọc. Ổng điểm danh tụi nó tới giờ.
Ông Hưng bật ra một tiếng gì đó, nửa như cười, nửa như nấc.
– Má. Thôi đi má. Má nói chuyện này với nó làm gì.
– Nó về đếm cây, – bà nội nói, giọng bỗng sắc lại. – Nó đóng thẻ lên hàng mười chín rồi. Mày không nói, thì để tụi nó nói với nó à?
Ông Hưng im. Ông quay người đi ra khỏi buồng. Khuê nghe tiếng ông mở cửa, tiếng mưa ào vào, rồi cánh cửa đóng sầm lại.
Còn lại hai bà cháu. Bà nội đưa xâu thẻ đồng lại cho Khuê.
– Con cất đi. Đừng để trên xà nữa. Tụi nó biết nó nằm đó.
– Nội. Còn cô Nhạn?
Bà nội quay mặt vào vách.
– Nội mệt rồi. Nội ngủ.
Tối hôm đó, ông Hưng sang nhà nội ngủ, lần đầu tiên sau nhiều năm. Ông trải chiếu nằm ngay dưới chân giường bà nội, dặn Khuê đi ngủ sớm.
– Tối nay má không đi đâu được, – ông nói. – Có tao nằm đây.
Khuê không ngủ. Cô nằm trong mùng, xâu thẻ đồng bọc trong cái khăn tay nhét dưới gối, nghe mưa đã ngớt dần thành những tiếng tí tách từ máng xối. Hai giờ năm mươi tám, cô ngồi dậy, mặc áo khoác, lẻn ra cửa sau. Cô ngó vào buồng bà nội lần cuối. Bà nằm yên, ngực phập phồng đều đặn. Dưới chân giường, ông Hưng ngồi dựa lưng vào tường, mắt mở trừng trừng nhìn vào bóng tối, như một người lính gác.
Ông thấy cô. Ông không nói gì, chỉ khẽ lắc đầu.
Cô vẫn đi.
Cô không xuống dốc, không qua cầu. Cô dừng ở chỗ đêm đầu tiên bà nội đã dừng, đầu con dốc nhìn sang lô Ông Cai. Cô tắt đèn pin. Đứng im trong bóng tối.
Ba giờ. Kẻng vang lên từ phía dãy nhà phu cũ. Ba hồi, mỗi hồi bảy tiếng.
Rồi, bên kia suối, những đốm đèn sáng lên, lần lượt, từ ngoài vào trong. Lần này cô đếm. Ba mươi sáu đốm. Không thiếu, không thừa. Đốm thứ ba mươi bảy, ở chỗ khúc quanh của con suối, không có.
Rồi giọng đàn ông vang lên. Khàn, chậm. Đọc số. Lần này Khuê nghe rõ hơn, có lẽ vì mưa vừa tạnh, không khí đặc và trong. Cô rút điện thoại, bật ghi âm, chĩa về phía bên kia.
Mỗi con số, một tiếng có. Cô đếm từng tiếng một, ngón tay bấm vào lòng bàn tay. Một. Hai. Mười. Hai mươi. Ba mươi. Ba mươi lăm. Ba mươi sáu.
Rồi ngừng.
Một khoảng lặng dài. Tiếng suối. Tiếng ếch nhái. Khuê thở ra, tưởng đã hết.
Giọng đàn ông lại vang lên. Nhưng lần này ông ta không đọc số. Ông ta đọc một cái tên. Cái tên đầu tiên và duy nhất trong cả buổi điểm danh.
– Vương Thị Nhạn.
Và từ chỗ khúc quanh của con suối, nơi không có đốm đèn nào, một giọng con gái trẻ, trong, hơi khàn như vừa khóc xong, đáp lại.
– Có.
Khuê đứng chết lặng. Điện thoại vẫn ghi âm trong tay cô. Cô biết bà nội đang nằm trên giường cách đây một cây số, có ba cô ngồi canh dưới chân. Cô biết giọng đó không phải giọng bà nội.
Đó là giọng của một người con gái mười chín tuổi. Một người con gái đã bỏ đi Sài Gòn từ bốn mươi mốt năm trước, và theo lời cả làng, chưa bao giờ quay về.
— Hết chương 5 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe