AI Truyện
Tiếng kẻng điểm danh ở lô Ông Cai

🕯️ Truyện ma kinh dị

Người trồng cây

Tiếng kẻng điểm danh ở lô Ông Cai · Chương 14/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 14: Người trồng cây

Họ tìm thấy bà nội lúc năm giờ hai mươi sáng, ở đúng chỗ mà Khuê đã biết, từ trước khi lội qua suối, là sẽ tìm thấy bà.

Cây thứ ba mươi bảy. Khúc quanh của con suối. Quầng đèn vàng nhạt của cái đèn pin đội đầu rọi lên thân cây, rọi lên một bàn tay nhăn nheo đang cầm dao.

Bà nội đứng thẳng. Không gậy. Không run. Lưng bà vẫn còng, nhưng không phải cái còng của người già yếu chống gậy ra tới cổng phải nghỉ hai lần. Mà là cái còng của người cạo mủ, cái tư thế cúi đầu sát vào thân cây mà người ta giữ suốt bốn chục năm cho tới khi xương sống tự uốn theo. Tay trái bà đặt lên thân cây, ngón cái miết nhẹ dọc mép đường cạo cũ để tìm chỗ bắt đầu. Tay phải bà cầm một con dao cạo mủ. Lưỡi dao móc cong, sáng loáng. Cán dao bằng gỗ, quấn mấy vòng dây đồng đã xỉn đen.

Bà đặt mũi dao vào đầu đường cạo, kéo một đường. Xoẹt. Chậm, đều, liền một mạch từ trái sang phải, dốc xuống, dài đúng nửa vòng thân. Một dải vỏ cây mỏng như sợi chỉ cuộn lại, rơi xuống. Mủ trắng rỉ ra ngay mép vết cắt, chảy thành dòng nhỏ theo đường xoắn, xuống cái máng thiếc, nhỏ vào cái gáo dừa ba khấc. Tách. Tách.

Đường cạo mỏng như lá lúa. Không phạm vào gỗ một li nào.

Khuê đứng lặng cách đó năm bước. Bên cạnh cô, ông Hưng cũng không nhúc nhích. Nước suối từ hai ống quần ông nhỏ xuống lá khô lộp độp.

– Má, – ông Hưng nói. Giọng ông nhỏ như giọng một thằng con nít.

Bà nội không quay lại. Bà rút dao ra, lấy vạt áo lau lưỡi dao, cẩn thận, kỹ lưỡng, như người ta lau một vật quý. Rồi bà cúi xuống, đặt con dao vào một cái hốc nhỏ giữa hai cái rễ lớn dưới gốc cây, lấy một nắm lá khô phủ lên.

Ở gốc cây, Khuê thấy xâu thẻ đồng. Ba mươi sáu cái thẻ, xâu trên sợi dây kẽm gỉ, được quấn một vòng quanh chân cây, sát mặt đất, như một sợi dây chuyền.

Bà nội đứng dậy, quay lại. Ánh đèn trên trán bà rọi vào mặt hai cha con, rồi bà với tay lên, tắt đi.

Trời đã rạng. Một thứ ánh sáng xám nhạt đang thấm dần qua tán lá, đủ để Khuê thấy mặt bà. Bình thản. Mệt mỏi. Nhưng bình thản.

– Má cạo nó ba mươi bốn năm rồi, – bà nói. – Từ hồi nó lớn đủ cạo được.

Không ai nói gì. Tiếng suối chảy rì rào. Ở đâu đó trên ngọn cây, một con chim chìa vôi hót mấy tiếng đầu ngày.

Bà nội ngồi xuống. Bà ngồi bệt trên lớp lá khô, lưng tựa vào thân cây thứ ba mươi bảy, ngay chỗ hôm trước ông Hưng ngồi. Bà vỗ vỗ xuống đất bên cạnh.

– Ngồi xuống. Hai đứa ngồi xuống đây. Má kể.

Họ ngồi xuống. Khuê bên trái bà, ông Hưng bên phải. Bà nội nắm lấy một bàn tay của mỗi người. Tay bà dính mủ, dính đất, lạnh như tay người vừa ngâm dưới suối.

– Đêm đó, – bà nói, – má thức dậy lúc gần bốn giờ. Giông đã qua, mưa còn lâm râm. Má thấy giường con Nhạn trống, ba mày cũng chưa về. Má biết con Nhạn đi ca thế thằng Hưng. Chiều hôm trước, hai anh em nó nói nhỏ với nhau ở sau hè, má nghe hết. Mà má không cản. Thằng Hưng đi gặp con Mận, má mừng cho nó. Má nghĩ một đêm thôi mà.

Bà ngừng lại. Ngón tay cái của bà miết lên mu bàn tay Khuê, chậm rãi.

– Má lấy đèn, má đi. Má không đi đường lớn. Hồi đó má đi đường tắt, men theo bờ suối từ dưới bãi xuồng lên, ra tới đây nhanh hơn. Má tới thì thấy ba người. Ba mày, chú Năm, thằng Khuyết. Thằng Khuyết ngồi ôm tay, máu chảy ròng ròng. Chú Năm đang cầm cái cuốc. Còn ba mày…

Bà nhắm mắt lại.

– Ba mày ngồi đây. Đúng chỗ này. Ôm con Nhạn trong lòng. Cái đèn đội đầu của nó văng ra một bên, còn sáng. Ba mày khóc. Má chưa thấy ba mày khóc bao giờ. Ổng ôm nó, ổng nói, tao khiêng nó về, tao lên báo, tao đi tù, tao chịu hết.

Ông Hưng phát ra một tiếng gì đó. Bà nội siết chặt tay ông.

– Má nói không.

Khuê quay sang nhìn bà nội. Bà vẫn nhắm mắt.

– Má nói không. Má quỳ xuống trước mặt ba mày, má nói không. – Giọng bà không run. Nó phẳng lặng, rõ ràng, như người đọc lại một bản án mình đã thuộc lòng. – Má nói, ông khiêng nó về, ông lên báo, thì người ta hỏi nó chết ở đâu. Ở lô Ông Cai. Lô đó trên giấy đã thanh lý. Vậy nó đi cạo cái gì ở đó. Người ta sẽ hỏi, rồi người ta sẽ biết. Cả đội 4 đi tù. Mười hai nhà. Mấy chục đứa con nít ở nhà không ai nuôi, cái năm đói đó, không ai nuôi là chết. Thằng Thanh nhà chú Năm đang lên sởi. Thằng con út của thằng Khuyết đang suy dinh dưỡng. Rồi người ta sẽ coi sổ chia ca. Đêm nay là ca của ai. Ca của thằng Hưng. Mà hàng mười chín, ai cạo hàng mười chín cả tháng nay, cạo riêng, bán riêng? Thằng Hưng. Người ta sẽ nói thằng Hưng ăn cắp mủ, rồi để em nó đi cạo thế, rồi em nó chết. Người ta sẽ bắt thằng Hưng.

Bà mở mắt ra. Bà quay sang nhìn ông Hưng. Ông Hưng đang khóc, khóc như mưa, không giấu.

– Má mất một đứa con rồi, – bà nói với ông. – Má không mất thêm đứa thứ hai. Má không để ba mày đi tù. Má không để mười hai nhà mất cơm. Con Nhạn chết rồi, có ai đi tù thì nó cũng không sống lại được. Má nói với ba mày vậy. Má nói với chú Năm, với thằng Khuyết vậy. Rồi má nói, chôn nó ở đây. Ngay chỗ nó nằm. Rồi về nói với cả làng, nó đi Sài Gòn.

– Má… – ông Hưng thở hắt ra. – Lá thư…

– Má biểu ba mày viết. Má đọc, ổng viết. Má không biết chữ nhiều, ba mày biết. Ổng vừa viết vừa khóc, nước mắt nhỏ xuống giấy, má phải biểu ổng viết lại tờ khác.

Khuê nghĩ tới lời bà Năm Thoa. Chữ nghiêng nghiêng, gạch đuôi dài, nét cứng. Nét chữ của ông nội, như nét chữ ký trên tờ trình năm tám tư, đè mạnh tới mức rách giấy. Bà Năm đã đúng. Thư là chữ ông nội. Nhưng người quyết định từng chữ trong lá thư ấy là bà.

– Rồi cả làng nói con Nhạn hư, – bà nội nói tiếp, nhìn ra phía con suối đang trôi xám đục dưới ánh bình minh. – Nói con gái mười chín tuổi bỏ má theo trai. Nói nhà này vô phước, có con gái không ra gì. Bốn mươi mốt năm, má nghe người ta nói vậy về con má. Má không cãi. Má để người ta nói. Vì người ta nói nó hư thì người ta không hỏi nó ở đâu.

Bà ngừng lại rất lâu. Con chim chìa vôi đã bay đi. Gió sớm lùa qua tán cao su, lá khô rơi lả tả.

– Một tuần sau, – bà nói, – má lên vườn ươm của đội, má xin một cây cao su con. Má nói má trồng dặm sau hè. Má đem ra đây. Má trồng ngay đầu nó. Lệch ra một chút, sát bờ suối, vì chỗ đó là chỗ đầu nó nằm. Má nghĩ, nó cạo mủ cả đời, nó thích cạo mủ, thì cho nó một cái cây. Cây của riêng nó. Không ai đếm, không ai chia, không ai lấy. Tới năm chín hai, cây đủ lớn, má bắt đầu cạo. Má cạo cho nó. Đêm nào cũng cạo. Hứng mủ vô gáo của nó, đem về để trên bàn thờ. Để nó có phần mà nộp. Để đêm nào điểm danh nó cũng có mặt, có phần, khỏi bị gạch tên.

– Con dao, – Khuê nói khẽ.

– Dao của nó. Đêm đó văng ra cạnh cái đèn. Má lượm về. Má giấu ở đây, dưới gốc cây. Đêm nào cạo xong cũng giấu lại. Bốn mươi mốt năm, không ai thấy.

Ông Hưng gục đầu xuống hai đầu gối, vai rung lên.

– Còn mấy đêm nay, – Khuê nói. – Đêm đầu tiên con về, nội đứng ở đầu dốc. Đêm thứ ba, con theo nội tới cầu thì nội biến mất. Rồi nội ngồi ở bìa lô, tay đầy mủ…

– Đêm đầu, má cạo xong lúc hai giờ rưỡi, đem gáo về để trên bàn thờ, rồi ba giờ kẻng, má ra đầu dốc đứng nghe điểm danh. Má đáp có cho nó, như mọi đêm. Má không biết con thức. – Bà nội cười, cái cười rất mỏng. – Đêm thứ ba, má biết con theo. Qua cầu, má tắt đèn, má đi đường bờ suối ra cây này, cạo cho nó. Xong má không dám đi ngang qua con. Má lội suối ở khúc cạn phía dưới, về bên kia, rồi má mệt quá, má ngồi xuống bìa lô nghỉ một chút. Ai dè ngủ quên. Tay má dính mủ là vì má lấy tay vuốt cái vết cạo cho nó, như hồi nhỏ má vuốt tóc nó.

Khuê nhìn bà. Mọi mảnh vỡ trong đầu cô bỗng rơi vào đúng chỗ, như những thẻ nhôm xếp thành hàng trên hiên nhà. Cái gáo mủ còn lỏng trên bàn thờ. Bàn tay trắng mủ. Mặt cạo của cây thứ ba mươi bảy với ba mươi bốn năm vỏ tái sinh xếp lớp. Đường cạo mỏng như lá lúa của một người đàn bà đã dạy con gái mình cạo mủ.

Cô hỏi câu mà cô sợ hỏi nhất.

– Nội. Còn ba mươi sáu cây kia?

Bà nội lắc đầu.

– Má không đụng tới. – Bà nói, rất rõ. – Từ hồi trồng nó tới giờ, má chỉ cạo một cây này. Ba mươi sáu cây kia, má không biết ai cạo. Má không bao giờ hỏi.

Tiếng suối réo lên bên tay trái họ. Nước đang lên. Đêm qua mưa trên đầu nguồn.

Khuê nhìn dọc hàng mười chín. Trong ánh sáng xám của buổi sớm, ba mươi sáu thân cây đứng thẳng tắp, mỗi thân có một đường cạo mới, ướt, và một sợi dây kẽm lủng lẳng, nơi những cái gáo dừa đã biến mất.

– Còn ông nội, – ông Hưng ngẩng lên, giọng khàn đặc. – Năm tám tám. Ba ra đây làm gì giữa mùa lũ, má?

Bà nội im lặng rất lâu. Rồi bà rút tay mình ra khỏi tay hai người, đặt lên đầu gối.

– Ba mày không phải lội ra rồi trượt chân như người ta nói, – bà nói. – Ba mày ra đây để đào con Nhạn lên.

— Hết chương 14 —

Mục lục Tiếng kẻng điểm danh ở lô Ông Cai

  1. 1Ba hồi kẻng10 phút đọc
  2. 2Hàng mười chín10 phút đọc
  3. 3Cái giá của một lô đất trống10 phút đọc
  4. 4Gáo dừa ba khấc10 phút đọc
  5. 5Ba mươi sáu cái thẻ đồng10 phút đọc
  6. 6Những ngọn đèn đội đầu10 phút đọc
  7. 7Người gõ kẻng9 phút đọc
  8. 8Lô ma9 phút đọc
  9. 9Cây thứ ba mươi bảy10 phút đọc
  10. 10Con số trong hồ sơ năm tám sáu10 phút đọc
  11. 11Chiếc máy múc đầu tiên10 phút đọc
  12. 12Đêm chiếu phim ở Làng Sáu9 phút đọc
  13. 13Có mặt10 phút đọc
  14. 14Người trồng cây9 phút đọc
  15. 15Ba người trong một hàng cây9 phút đọc
  16. 16Áp thấp9 phút đọc
  17. 17Ba hồi kẻng cuối9 phút đọc
  18. 18Điểm danh9 phút đọc
  19. 19Những gì đất trả lại9 phút đọc
  20. 20Mùa thay lá9 phút đọc

Về truyện này

Tiếng kẻng điểm danh ở lô Ông Cai là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →