Chương 1: Ba đầu hương gãy
Người của bộ Lễ đặt lên bàn thờ họ Phương ba mẩu hương gãy, mẩu nào cũng chưa cháy hết một đốt ngón tay.
Ông ta không ngồi, cũng không nhận chén trà gia nhân bưng ra. Ông ta đứng giữa nhà thờ, hai tay chắp sau lưng, nói như đọc một tờ cáo thị:
– Giờ Thìn sáng nay, lễ Xuân hưởng ở Thái miếu. Quan Lang trung Hồ đích thân cắm hương trước án liệt thánh. Nén thứ nhất tắt. Nén thứ hai tắt. Nén thứ ba cháy được nửa tấc thì gãy ngang, rơi xuống chân đỉnh. Hoàng thượng đứng nhìn từ đầu đến cuối.
Không ai trong nhà thờ lên tiếng. Ngoài sân, con chim khướu của chú hai vẫn hót trong lồng, hót rất to, như không biết trời đất vừa sập xuống đầu họ Phương.
Phương Khê Vân đứng ở hàng sau, cạnh vú Nhót, sau lưng bà nội, sau lưng cha, sau lưng chú hai và thím hai. Nàng không nhìn người của bộ Lễ. Nàng nhìn ba mẩu hương nằm trên tấm khăn điều.
Ba mẩu hương ấy nàng biết rõ từng phân. Hương trầm Tịnh Đàn, sáu trăm nén, ba mươi hộp gỗ, mỗi hộp hai mươi nén, niêm sáp đỏ in dấu Phương Ký. Nàng pha bột từ tháng Chạp năm Bính Dần, ngồi bên cối suốt mười một ngày, cân từng chỉ trầm, từng chỉ quế, nắm bột bời lời phải khô tới mức bóp không dính tay. Bốn năm nay, từ khi mẹ mất, phương hương Thái miếu là việc của nàng. Ba đời họ Phương treo tấm bảng "Ngự hương" trước cửa hiệu, chưa có năm nào hương nhà mình tắt trước án thờ.
– Quan Lang trung đã cho niêm phong đỉnh đồng cùng số hương còn lại, – người bộ Lễ nói tiếp. – Họ Phương có bảy ngày. Đến mồng mười hai, nhà phải tự xét ra người làm hỏng, tự xử theo gia pháp, rồi dâng tờ tạ tội. Tấm bảng Ngự hương tạm thời phải tháo xuống. Ngày hai mươi tháng Chạp năm nay, bộ Lễ mở cuộc thử hương, hiệu nào đủ tư cách cũng được dự, ai đứng đầu thì năm sau treo bảng.
Bà nội ngồi trên sập, lưng thẳng như cái cột gỗ lim sau lưng bà. Bà hỏi đúng một câu:
– Nếu nhà không tìm ra người thì sao?
– Thì gia chủ phải lên bộ Lễ trình diện, – người kia đáp. – Tội bất kính ở trước Thái miếu, nặng nhẹ thế nào, quan trên định.
Gia chủ là cha nàng. Phương Đình Khiêm đứng cúi đầu, hai bàn tay buông thõng, ống tay áo the còn vương mùi trầm từ sáng. Ông đã đứng ở cửa Thái miếu, ở hàng các hiệu tiến cống, nghe tiếng xướng lễ ngừng lại từng lần một. Từ trưa về đến giờ ông chưa nói câu nào.
Người bộ Lễ đi rồi, cả nhà thờ vẫn im. Chú hai Phương Đình Cung bước lên trước, cầm một mẩu hương giơ lên ánh sáng cửa sổ, xoay xoay.
– Hương ẩm, – chú nói. – Ẩm từ trong lõi. Mẹ xem, bột không ăn vào tăm. Người pha bột làm ăn kiểu gì thế này?
Chú không quay lại. Chú không cần quay lại. Ai trong nhà cũng biết người pha bột là ai.
Khê Vân bước lên. Vú Nhót níu vạt áo nàng, nàng gỡ tay vú ra.
– Chú cho cháu xem.
Chú hai nhìn nàng một lúc rồi đặt mẩu hương vào tay nàng, như đặt một thứ bẩn.
Nàng không nhìn ngay. Nàng đưa lên mũi trước. Mùi trầm có, nhưng mỏng, như trầm rắc ngoài vỏ. Bên dưới lớp trầm ấy là một mùi khác, chua và nồng, giống mùi nồi cơm nguội để qua đêm mùa nồm. Rồi nàng mới nhìn đầu hương cháy dở. Tàn không bám. Chỗ cháy đen sì, sùi lên những cục xám trắng như vôi vón, nàng chạm móng tay vào là rơi lả tả xuống khăn.
Mẹ nàng có một câu, nói từ hồi nàng còn phải kiễng chân mới nhìn tới mặt bàn pha: hương tốt tàn cong như móc câu, cong mà không rơi. Hương xấu thì tàn rụng như người ho.
– Cái này không phải hương cháu pha, – nàng nói.
Thím hai Liêu Thị Bảo bật cười một tiếng ngắn, rồi lấy khăn che miệng.
– Cháu nói gì cơ? – chú hai hỏi, giọng rất nhẹ.
– Bột cháu pha không có mùi chua. Tàn bột cháu pha không vón. Trong này có thứ gì đó không phải bời lời.
– Ba mươi hộp, niêm sáp đỏ, dấu nhà mình, – chú hai nói chậm từng chữ. – Sáng mồng bốn chú tự tay áp xe chở lên Thái miếu, giao cho người bộ Lễ, có ký nhận. Cháu bảo không phải hương cháu pha. Vậy là của ai? Của ma à?
– Cháu không biết của ai. Cháu chỉ biết không phải của cháu.
– Đủ rồi.
Bà nội không to tiếng. Bà chỉ đặt cái quạt giấy xuống mặt sập, một tiếng "cạch" nhỏ, mà cả nhà thờ thôi thở.
– Mồng bảy họp họ, – bà nói. – Ai có gì muốn nói thì để dành đến hôm ấy. Đình Khiêm, con ở lại. Những người khác ra ngoài.
Khê Vân ra đến hiên mới thấy hai bàn tay mình lạnh ngắt. Vú Nhót kéo nàng đi dọc hành lang, vừa đi vừa thì thào như sợ tường nghe thấy:
– Cô ơi, cô cãi làm gì. Cô cãi chú hai thì được cái gì. Cô cứ để ông nhà mình lo.
Nàng không đáp. Đi ngang cửa buồng của dì Thoa, nàng thấy rèm hé. Kế mẫu nàng, Kim Thị Thoa, đứng trong bóng rèm, đôi khuyên ngọc bích ở tai bắt chút ánh chiều, xanh như hai giọt nước ao. Dì nhìn nàng, không nói gì, rồi buông rèm xuống.
Bốn năm nay dì Thoa vẫn nhìn nàng như thế. Dì là người đã bước lên ghế vợ cả khi mộ mẹ nàng cỏ mới kịp xanh. Dì đã cho dọn hết đồ đạc trong buồng mẹ nàng vào kho, cái hòm áo, cái giá sách, cái đĩa đồng hứng tàn mẹ dùng thử hương suốt hai mươi năm. Khê Vân đã đi tìm cái đĩa ấy, lục khắp kho, không thấy. Dì Thoa bảo không biết. Từ đấy hai người nói với nhau đúng bằng những câu phải nói.
Đêm ấy Khê Vân không ngủ.
Nàng nằm nghe tiếng mõ cầm canh ngoài phố Trầm Thủy, nghe tiếng chú hai và cha cãi nhau ở thư phòng, tiếng chú thì to, tiếng cha thì không nghe thấy gì, chỉ có những khoảng im rất dài. Đến canh ba nàng ngồi dậy, khoác áo, cầm cây đèn dầu nhỏ, đi xuống buồng nhỏ sau bếp, nơi nàng vẫn cất đồ pha hương.
Mẹ nàng có một lệ mà cả xưởng Gò Sậy ai cũng biết: mẻ hương nào làm xong cũng phải giữ lại một bó lưu hai mươi nén, buộc lạt đỏ, ghi ngày, cất trong hũ sành lót vôi sống. Nhỡ khách kêu, nhỡ quan hỏi, có cái mà đốt cho người ta xem. Bó lưu của mẻ Tịnh Đàn nàng mang từ xưởng về phủ từ hôm hai mươi tháng Chạp, để trong cái hũ sành men nâu kê dưới gầm bàn.
Nàng mở nắp hũ. Mùi vôi khô bốc lên, rồi mùi trầm. Bó hương nằm đó, lạt đỏ còn nguyên nút buộc của nàng.
Nàng rút một nén, cắm vào cái bát tro nhỏ, châm lửa.
Ngọn lửa liếm vào đầu hương, nàng thổi nhẹ cho tắt, chỉ còn một chấm đỏ. Khói lên một sợi mảnh, thẳng, rồi mới uốn. Mùi trầm Tịnh Đàn đi trước, ngọt và trầm như gỗ ướt mưa, rồi đến chút quế, chút hồi rất sau, giống như người ta mở cửa một căn phòng ấm vào sáng mùa đông. Không có mùi chua.
Nàng ngồi xổm trước bát tro, cằm tì lên đầu gối, nhìn đầu hương đỏ lùi dần xuống. Tàn mọc ra, màu tro bạc, dài nửa đốt, rồi một đốt, rồi bắt đầu cong. Cong dần như ai đó đang uốn nó bằng một ngón tay vô hình. Cong thành một cái móc câu. Không rơi.
Nàng ngồi như thế cho đến khi nén hương cháy hết, tàn vẫn cong trên que, như một dấu hỏi úp ngược.
Vậy là nàng không sai. Mẻ hương nàng pha không hỏng. Thứ cháy ở Thái miếu sáng nay là một thứ khác.
Nhưng ngồi đây một mình chứng minh điều ấy với cái bát tro thì có ích gì. Nàng nghĩ đến ngày mồng bảy, đến cả họ ngồi chật nhà thờ, đến giọng chú hai: "Bó lưu à? Bó lưu cháu tự làm riêng, ai biết được." Nàng biết chú sẽ nói đúng câu ấy. Hai mươi năm nay chú quản xưởng Gò Sậy, chú biết mọi lệ của mẹ nàng, và chú biết cách bẻ từng cái.
Nàng nghĩ một lúc, rồi rút thêm một nén nữa ra khỏi bó. Nàng không đốt. Nàng lật nén hương lại, nhìn cái chân tăm nhuộm đỏ. Chân hương nhà họ Phương vát xéo một nhát, nhọn như ngòi bút lông, ông cố nàng đặt ra lệ ấy để hương cắm vào bát tro được sâu và đứng. Ông Đắc thợ cả đã dạy nàng vót tăm và vát chân từ năm nàng chín tuổi, một nhát dao nghiêng, không được hai nhát. Nàng vát hỏng mất cả trăm cây mới được ông gật đầu.
Nàng cầm nén hương ấy, vén tóc, xỏ nó qua búi tóc sau gáy như cài một cây trâm. Thân hương dài vừa bằng cây trâm gỗ nàng vẫn cài. Dưới ánh đèn mờ, không ai nhìn ra.
Rồi nàng đậy nắp hũ, đẩy vào gầm bàn, thổi đèn, về buồng.
Sáng mồng sáu, gà gáy được một lúc, Khê Vân xuống buồng sau bếp. Nàng định mang bó lưu đi tìm bà nội trước khi mọi người dậy, đốt cho bà xem tận mắt, trước khi chú hai kịp nói câu gì.
Cái hũ sành vẫn nằm dưới gầm bàn. Nắp vẫn đậy.
Nàng mở ra. Lớp vôi sống vẫn còn, trắng và khô. Ở giữa lớp vôi có một vết lõm dài, đúng hình bó hương.
Bó hương thì không còn nữa.
Nàng quỳ xuống, lật cả hũ ra, vôi đổ trắng nền gạch. Không có. Nàng lục gầm bàn, lục giá, lục cả cái thúng đựng tăm tre bên cạnh. Không có. Cửa buồng chỉ có cái then gài bên trong, đêm qua nàng đi ra từ đây, nàng nhớ mình không gài then, vì cửa này xưa nay chẳng ai gài.
Vú Nhót xuống tìm, thấy nàng ngồi giữa đống vôi trắng, áo dính vôi tới khuỷu tay.
– Trời đất ơi, cô làm gì thế này?
– Vú, đêm qua sau canh ba vú có nghe ai xuống bếp không?
Vú Nhót nghĩ một lúc, rồi lắc đầu. Rồi lại gật.
– Có tiếng guốc. Vú tưởng con Hến đi lấy nước.
Con Hến là a hoàn của thím hai. Nhưng tiếng guốc thì cả phủ ai mà chẳng đi guốc.
Khê Vân đứng dậy, phủi vôi trên tay. Nàng đưa tay sờ sau gáy. Cái nén hương vẫn nằm trong búi tóc, cứng và nhẹ, chân vát nhọn chạm vào đầu ngón tay nàng.
Vậy là trong cả cái phủ này, chứng cứ duy nhất cho thấy nàng không làm hỏng hương Thái miếu, là một que hương mảnh hơn chiếc đũa, đang nằm trên đầu nàng.
Và có một người trong nhà đã biết nàng giữ bó lưu ở đâu, đã đi xuống bếp lúc nửa đêm, đã lấy nó đi mà không làm đổ một hạt vôi.
Ngoài sân, con khướu của chú hai lại bắt đầu hót.
— Hết chương 1 —
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe