AI Truyện
Tàn hương cong móc câu

🏯 Cổ đại & cung đấu

Giấy niêm trên cửa chái

Tàn hương cong móc câu · Chương 9/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 9: Giấy niêm trên cửa chái

Bảy người đàn bà xóm Đình đứng chết trân bên giàn phơi, tay còn cầm những que hương ướt bột.

Viên thư lại đọc xong, cuộn tờ giấy lại, ra hiệu. Bốn người lính tản ra. Một người giật tấm phên che giàn phơi. Một người bê cái cối đá của bà Sim ra giữa sân. Hai người vào chái, lục tung từng góc.

– Các ông nhẹ tay, – Khê Vân nói. – Hương chưa khô, đụng mạnh là gãy.

– Gãy thì gãy, – viên thư lại nói, không ngẩng đầu khỏi cuốn sổ đang ghi. – Niêm phong là niêm phong. Đồ của cô cô kê ra, có gì thì ghi.

Nàng đứng nhìn họ khuân. Hũ trầm còn ba cân loại một của Đinh Khoan. Mười hai bao bột bời lời mua của lão Mão. Hai mươi bó tre ngâm. Mấy chục hộp gỗ thông chưa đóng. Con dao vót tăm, cái cân tiểu ly của mẹ. Họ dán lên mỗi thứ một mảnh giấy vàng, đóng dấu son.

Một người lính bò vào gầm giường, lôi ra cái hũ sành có nắp. Hắn mở nắp, ngửi, nhăn mặt.

– Bột gì chua lòm thế này?

Khê Vân đứng sững. Rồi, rất nhanh, nàng nghĩ ra một điều.

– Bột bời lời hỏng, – nàng nói. – Nhưng cũng là đồ làm hương. Ông ghi vào sổ cho đủ. Ghi rõ là một hũ, có nắp, đựng khoảng năm cân bột bời lời có mùi chua.

Viên thư lại nhìn nàng một cái, như ngạc nhiên vì có người bị niêm phong mà còn đòi ghi cho đủ. Rồi hắn ghi.

Thứ bột ấy, nàng giấu dưới gầm giường ba tháng, ngày nào cũng sợ có người lén vào lấy mất. Từ nay nó nằm trong kho của nha môn, dán giấy niêm của quan, ghi trong sổ của quan. Muốn lấy ra, phải có lệnh quan.

Đến lượt cái hộp gỗ nhỏ dưới gối. Một người lính cầm lên.

– Cái đó là đồ của mẹ tôi, – Khê Vân nói, giọng đanh lại. – Một cái đĩa đồng cũ. Không phải đồ làm hương bán. Ông mở ra mà xem.

Người lính mở hộp, thấy cái đĩa đồng với lớp tro, thấy đoạn tàn cong và nén hương bọc lụa. Hắn nhìn viên thư lại. Viên thư lại phẩy tay.

– Đồ thờ cúng người chết thì thôi. Trả lại.

Họ làm đến tận chiều. Lúc đi, cái chái chỉ còn lại mấy cái chiếu, cái nồi, cái ấm chè. Cửa chái dán chéo hai tờ giấy niêm. Giàn phơi dán giấy niêm. Ngay cả mẻ hương ướt trên giàn cũng bị dán, để mặc cho mưa chiều tháng Bảy rơi xuống.

– Bao giờ xử? – nàng hỏi.

– Hai mươi lăm tháng Tám, – viên thư lại nói. – Quan Tri châu đi kinh lý mấy xã trên nguồn, về mới xử. Trong lúc chờ, cô không được làm hương, không được bán hương. Làm lén là có tội.

Họ đi rồi, bảy người đàn bà xóm Đình mới dám đến gần. Bà nào cũng nhìn nàng bằng con mắt vừa thương vừa sợ. Một bà rụt rè hỏi tiền công mấy ngày nay. Khê Vân trả đủ cho từng người, trả cả tiền công ngày hôm nay, rồi bảo họ về.

Bà Sim ngồi bệt bên cái cối đá có dán giấy niêm của chính bà, lẩm bẩm:

– Cái cối nhà tôi ba đời giã gạo. Đến đời tôi thì bị quan niêm.

Ba ngày sau, đình làng Vạn Thượng sai người xuống, xin trả lại tiền đặt trước một trăm nén. Ngôi chùa sau đồi Ông Tượng cũng thôi. Mấy nhà phố chợ đặt hương giỗ thì không ai đến nữa. Ông Lò đứng ở cổng đình kể cho cả chợ nghe: con bé kinh thành ấy ăn trộm phương nhà nó, bị nhà nó kiện, quan niêm cả nhà rồi.

Lần này không có cụ Chánh Bạ nào đứng lên nói câu nào. Cụ Chánh bị ốm, nằm nhà.

Khê Vân ngồi ở hiên chái, nhìn hai tờ giấy niêm dán chéo trên cửa. Muốn vào lấy cái áo cũng phải xin phép lý trưởng. Đêm đầu tiên, nàng với vú Nhót ngủ ngoài hiên. Muỗi lại kéo sang từ bãi sậy, rền lên như tiếng dây đàn. Không có lấy một que hương.

Gần nửa đêm, có ánh lửa ở mũi ghe.

Bà Rạng ngồi trên mạn chiếc ghe to, bên cạnh một cái chậu sành. Trong chậu không phải rơm. Là mấy que hương muỗi cuối cùng còn sót lại trong túi áo thằng Cò, ba que, cháy đỏ đầu.

– Xuống đây, – bà Rạng gọi. – Muỗi trên ấy ăn thịt hai người mất.

Khê Vân với vú Nhót xuống ghe. Khoang ghe hẹp, mùi cá, mùi nước sông, mùi gỗ ẩm. Ba que hương muỗi cháy âm ỉ, khói mảnh.

Bà Rạng không nói gì một lúc lâu. Bà bóc một quả ổi xanh, cắn, nhai rồi mới nói:

– Thằng áo nâu ấy hôm qua lại xuống. Hỏi tôi tháng này cô làm gì. Tôi bảo: tháng này nó bị quan niêm phong. Hắn cười, đưa thêm cho tôi nửa lạng.

– Bà nhận chứ?

– Nhận, – bà Rạng nói. – Tiền đứa ác đưa thì cứ nhận, để đứa ác nghèo bớt. Nhưng mà cô nghe tôi nói đã.

Bà ném hạt ổi xuống sông, chùi tay vào ống quần.

– Sáu năm trước, lái kinh thành kiện tôi đền ghe gạch, cả cái bến này không ai đứng ra nói với tôi một câu. Họ sợ lái kinh. Họ nghĩ tôi là đàn bà góa, cãi làm gì cho mệt. Tôi đi kiện một mình, ngồi ở cổng nha môn ba ngày, đến lúc quan xét thì quan bảo: lái kinh có giấy thuê ghe, ghi rõ chở quá mạn là tự chịu. Tôi không biết chữ. Chồng tôi cũng không biết chữ. Tờ giấy ấy ông ấy điểm chỉ mà không biết trong đó viết gì.

Bà dừng lại, nhìn ra mặt sông đen.

– Tôi đền hai mươi lạng. Bán một ghe. Từ đấy tôi thề, đời này không đứng nhìn ai bị người kinh dí vào chân tường một mình nữa.

Khê Vân không biết nói gì.

– Họ niêm cái chái, – bà Rạng nói tiếp. – Họ không niêm ghe tôi. Muỗi bến này thì quan không niêm được. Cô làm hương thờ thì quan bảo của họ Phương. Thế hương đuổi muỗi có phải của họ Phương không?

– Không, – Khê Vân nói. – Nhà họ Phương không bao giờ làm hương đuổi muỗi. Cha cháu còn chê.

– Thế thì làm hương đuổi muỗi. Làm trên ghe tôi. Ngải thì ngoài đồng còn, bưởi thì cây nhà ông ngoại cô còn, bột bời lời thì đồi Ông Tượng vẫn gãy cành. Quan có hỏi, tôi đứng ra nói: hương muỗi này cô làm từ tháng Hai, cả bến dùng, nhà họ Phương ở kinh không ai biết làm.

Khê Vân nhìn bà Rạng. Ánh lửa đầu que hương chiếu lên khuôn mặt đen sạm, những nếp nhăn sâu như rãnh nước trên bãi bùn.

– Cháu cảm ơn bà.

– Đừng cảm ơn, – bà Rạng nói, lại bóc quả ổi thứ hai. – Tôi làm vì chồng tôi. Ông ấy mà còn, ông ấy cũng làm thế.

Tháng Tám, khoang giữa chiếc ghe to của bà Rạng biến thành xưởng hương muỗi.

Thằng Cò lại lên đồi Ông Tượng nhặt cành. Vú Nhót lại giã vỏ bời lời, lần này giã bằng cái cối gỗ của bà Rạng, vốn để giã cua. Bà Sim không được dùng cối đá, nhưng ngày nào cũng chống gậy ra bến, ngồi trên mạn ghe chỉ bảo cách phơi. Hai trong bảy người đàn bà xóm Đình quay lại, không đòi tiền công, chỉ xin mỗi tối mang về vài bó cho con.

Không còn đơn hội đình, không còn ba nghìn nén cho chùa kinh thành. Hai đồng một bó. Nhưng mỗi tối Khê Vân vẫn đếm tiền trên mạn ghe, vẫn cất vào túi vải, vẫn ghi vào đầu.

Ngày nào nàng cũng nghĩ đến phiên xử. Cái phương hương thờ nàng làm cho hội đình và cho chùa Vân Thê không phải phương Tịnh Đàn của mẹ. Nhưng nó đi ra từ phương Tịnh Đàn: cùng trầm, cùng quế, cùng hồi, chỉ có thêm vỏ bưởi và bớt đi một thứ. Ai cầm hai bó hương ngửi cạnh nhau cũng sẽ thấy giống. Nàng biết, chú hai biết.

Một tuần trước phiên xử, nàng lên nha môn xin xem đơn kiện. Theo lệ, người bị kiện được đọc đơn của người kiện.

Viên thư lại dạo trước lục tìm một lúc lâu trong cái tủ gỗ, rồi đưa ra một xấp giấy dày, buộc dây gai. Nàng đứng ngay cạnh cửa sổ phòng thư lại mà đọc.

Đơn viết bằng chữ của một thầy kiện, nét chữ đẹp, đều, câu văn rào đón rất khéo. Phương Đình Cung, chủ quản xưởng Phương Ký, kiện người đàn bà Khê Vân. Người này nguyên là con gái họ Phương, năm Đinh Mão đã bị xuất tộc vì làm hỏng hương tiến Thái miếu. Khi rời phủ, người này đã lén chép lại phương hương Tịnh Đàn và nhiều phương khác, là bí phương ba đời của họ Phương. Rồi đem về Vạn Sa làm hương bán, lấy cả mùi hương của Phương Ký để lừa người mua. Xin quan Tri châu tịch thu toàn bộ hương, cấm người này làm hương, bồi thường cho họ Phương năm trăm lạng bạc.

Năm trăm lạng. Nàng đọc lại con số ấy hai lần.

Lật sang trang sau, nàng thấy một tờ giấy khác, ngắn hơn, chữ của một người khác, nét to và vụng. Đó là tờ khai của người làm chứng.

"Tôi là Lư Đắc, thợ cả xưởng Phương Ký, sáu mươi ba tuổi. Tôi khai: đêm mồng chín tháng Hai năm Đinh Mão, tôi thấy cô Khê Vân ngồi trong gian pha hương của xưởng Gò Sậy, chép phương hương vào một tờ giấy, rồi gấp lại cất vào người. Tôi khai đúng sự thật."

Bên dưới là một dấu điểm chỉ, mực son đỏ, vân tay to và mờ. Ngón cái của một người có đầu ngón tay chai cứng.

Khê Vân đứng im bên cửa sổ, tờ giấy trong tay.

Đêm mồng chín tháng Hai, nàng ở trong buồng mình ở phủ, xếp đồ vào hai cái tay nải. Vú Nhót biết. Bà nội đã cấm nàng bước chân vào xưởng Gò Sậy từ hôm mồng bảy. Nàng không ra khỏi phủ một bước.

Ông Đắc biết điều đó. Ông Đắc biết rõ hơn ai hết, vì nàng không bao giờ cần chép phương. Ông là người đã thấy nàng học thuộc cả trăm phương hương của mẹ từ năm mười hai tuổi, đọc ngược đọc xuôi không sai một chỉ.

Thế mà ông điểm chỉ vào đây.

Nàng nhớ lời dì Thoa trong đêm: dì chỉ thấy cái lưng. Nàng nhớ mình đã nói to lên: không phải ông Đắc.

Viên thư lại hỏi cô đọc xong chưa. Nàng gật đầu, buộc dây gai lại, đặt xấp giấy lên bàn, cẩn thận như đặt một cái bát vỡ.

Ra đến cổng nha môn, nắng tháng Tám đổ xuống trắng lóa cả con đường đất. Nàng đứng ở đó một lúc lâu, để cho cái nắng ấy chiếu vào mặt mình, nóng rát.

Rồi nàng nghe thấy tiếng ai gọi tên mình từ phía bến, giọng nặng và chữ cuối câu hơi nhấn lên như người trên nguồn.

Đinh Khoan đứng dưới gốc gạo đầu bến, cái gùi mây trên vai, đầu quấn khăn chàm. Anh về sớm hơn hẹn gần một tháng.

– Tôi nghe người ta nói ở chợ phiên Quỳ Lĩnh, – anh nói, khi nàng đi tới. – Có người kiện cô. Tôi xuôi về.

Rồi anh nhìn thấy mặt nàng, và không hỏi gì thêm.

— Hết chương 9 —

Mục lục Tàn hương cong móc câu

  1. 1Ba đầu hương gãy10 phút
  2. 2Tộc phả có một nét gạch10 phút đọc
  3. 3Bến Vạn Sa9 phút đọc
  4. 4Hương muỗi hai đồng một bó9 phút đọc
  5. 5Mười cái móc câu ở sân đình10 phút đọc
  6. 6Người bán trầm không bán cho kinh thành9 phút đọc
  7. 7Ba nghìn nén cho rằm tháng Bảy9 phút đọc
  8. 8Đôi khuyên ngọc bích11 phút đọc
  9. 9Giấy niêm trên cửa chái10 phút đọc
  10. 10Hai bát tro ở công đường10 phút đọc
  11. 11Phương hương thứ nhất của mình9 phút đọc
  12. 12Ba trăm lạng10 phút đọc
  13. 13Chợ Quỳ Lĩnh hết trầm9 phút đọc
  14. 14Bốn ống nứa bịt sáp9 phút đọc
  15. 15Chân hương cắt bằng9 phút đọc
  16. 16Vôi sống dưới đáy hộp9 phút đọc
  17. 17Sân bộ Lễ ngày hai mươi tháng Chạp9 phút đọc
  18. 18Đỉnh đồng niêm phong9 phút đọc
  19. 19Một dòng viết lại9 phút đọc
  20. 20Cong mà không rơi9 phút đọc

Về truyện này

Tàn hương cong móc câu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →