AI Truyện
Tàn hương cong móc câu

🏯 Cổ đại & cung đấu

Chợ Quỳ Lĩnh hết trầm

Tàn hương cong móc câu · Chương 13/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 13: Chợ Quỳ Lĩnh hết trầm

Hũ trầm bị mốc.

Khê Vân phát hiện ra điều ấy vào hôm thứ hai sau khi từ kinh thành về. Nàng mở cái hũ sành đựng số trầm còn lại, định cân ra để pha mẻ thử đầu tiên cho kỳ thi. Ba cân loại một nha môn trả về sau phiên xử, qua mười mấy mẻ thử, giờ còn hơn hai cân. Mùi trầm vẫn có, nhưng lẫn vào đó là một mùi khác, ngai ngái, như mùi rơm ủ lâu ngày. Nàng đổ trầm ra cái mẹt, thấy trên mặt mấy mẩu to có những đốm trắng li ti như bụi phấn.

Trận mưa tháng Chín. Ba ngày ba đêm cả chái ẩm như cái chum. Nàng đã lo cho hương, lo cho vú Nhót, mà quên mất cái hũ trầm nằm dưới gầm giường, nắp không kín.

Nàng lau từng mẩu bằng khăn khô, phơi nắng hai ngày, rồi cạo một sợi đốt thử. Mùi mốc vẫn còn, rất mỏng, chỉ người mũi thính mới nhận ra. Nhưng ở sân bộ Lễ ngày hai mươi tháng Chạp, người ngửi hương sẽ là những người mũi thính nhất kinh thành.

– Dùng tạm được không cô? – vú Nhót hỏi.

– Dùng được để bán ở chợ, – nàng nói. – Không dùng được để cắm trước án liệt thánh.

Trong túi nàng còn chưa đầy hai lạng bạc. Ba trăm lạng nằm trong kho bộ Lễ.

Tháng Mười, Khê Vân bán hương Khê Vân ở Vạn Sa.

Cụ Chánh Bạ đặt hai trăm nén cho lễ cầu an cuối năm của đình. Đình làng Vạn Thượng nghe tin quan Tri châu xử cho nàng, sai người xuống đặt lại một trăm nén đã trả. Ngôi chùa sau đồi Ông Tượng cũng quay lại. Mấy nhà phố chợ có giỗ thì đến tận chái mua. Thứ trầm bị mốc, trộn với vỏ bưởi và hương bài, đốt ở đình làng thì không ai nhận ra. Nàng bán rẻ hơn hương thờ ông Lò một đồng mỗi bó. Ông Lò lại đứng chống nạnh ở cổng đình, nhưng lần này không nói gì.

Tiền về từng đồng một. Đủ trả công cho hai người đàn bà xóm Đình, đủ mua tre, mua bột của lão Mão. Không đủ để mua trầm nếu phải mua ở chợ.

Nàng chờ Đinh Khoan.

Giữa tháng Mười, có một chiếc ghe buôn muối từ sông Thâm xuôi về, cập bến Vạn Sa. Người lái ghe là một ông già quen bà Rạng, ngồi uống chè ở hiên chái, kể chuyện chợ phiên Quỳ Lĩnh như kể chuyện lạ.

– Năm nay lạ lắm, – ông ta nói. – Phiên rằm tháng Chín, có một đoàn lái kinh thành lên. Bốn ghe to. Họ mua sạch trầm loại một, loại hai, trả giá gấp đôi, không mặc cả. Đến lượt dân mình đi chợ mua trầm về làm thuốc, không còn mẩu nào. Rồi họ còn vào tận các làng, đặt tiền trước cho cả mùa đi rừng năm sau. Làng nào nhận tiền thì trầm năm sau là của họ.

– Lái hiệu nào? – Khê Vân hỏi, dù nàng đã biết.

– Người ta bảo là hiệu Kiều gì đó. Túi thêu chữ Kiều.

Bà Rạng đặt chén chè xuống, nhìn nàng.

– Làng Khe Chè có nhận không ông? – nàng hỏi.

Ông lái ghe gãi đầu.

– Làng Khe Chè à? Làng ấy xưa nay ghét lái kinh lắm. Nhưng tôi nghe nói lái này mang theo cả cuốn sổ nợ cũ, đọc tên từng nhà. Bảo là nợ của hiệu Kiều mấy năm trước, giờ hiệu Kiều trả đủ, trả cả lãi. Cả làng ngồi nghe mà khóc. Người ta nợ mình mười năm, giờ mang tiền lên trả tận tay. Ai mà không nhận.

Khê Vân không nói gì. Nàng nghĩ tới Đinh Khoan ngồi trên bậc đình tháng Năm, kể chuyện người cầm cân ăn bớt hai lạng mỗi cân. Cha tôi mất mà cái nợ ấy vẫn ghi trên vách nhà.

Kiều Bá Hành đã trả cái nợ ấy. Một món nợ mười năm, đổi lấy cả mùa trầm của một làng. Không cần ép, không cần dọa. Chỉ cần trả cho đúng.

Ông ấy kiên nhẫn hơn chú hai nhiều.

Cuối tháng Mười, một đứa trẻ người làng Khe Chè xuôi xuống theo ghe muối, tìm đến chái, đưa cho nàng một mảnh lá chuối khô gấp làm tư. Trên đó vẽ bằng than ba hình: một cái nhà sàn, một cái túi tiền, và một người đeo gùi đi về phía mấy cái tam giác nhọn, chắc là núi. Dưới cùng là một cái móc câu.

Thằng bé nói lơ lớ:

– Anh Khoan bảo: làng nhận tiền rồi. Anh đi rừng một mình. Đầu tháng Mười Một về.

Khê Vân cầm mảnh lá chuối, nhìn cái hình người đeo gùi rất lâu.

– Anh ấy đi rừng nào?

– Rừng Đá Đen, – thằng bé nói. – Rừng sâu lắm. Người làng không vào. Chỉ có ông nội anh Khoan ngày xưa vào.

Hôm sau, Khê Vân vẫn đi một vòng chợ bến, cho chắc. Gian thuốc bắc dạo trước bán cho nàng nửa cân trầm vụn giờ chỉ còn cái lọ sành rỗng. Ông chủ lắc đầu: có người ở kinh xuống mua cả vụn, cả mùn, trả tiền mặt, đến cái lọ cũng suýt mua. Nàng hỏi thêm hai nhà làm thuốc ở phố chợ, một nhà làm hương ở xóm Vạn Thượng. Nhà nào cũng một câu. Người ta không chỉ mua trầm tốt. Người ta mua cả cái quyền được có trầm ở bến này.

Chiều hôm ấy, bà Rạng gọi nàng xuống ghe, giọng thấp hơn mọi khi.

– Thằng áo nâu lại xuống, – bà nói. – Lần này hắn không hỏi cô làm gì. Hắn hỏi tháng Chạp cô đi kinh bằng ghe nào, ngày nào, chở mấy hộp. Hắn bảo nếu tôi chở thì hắn trả tôi hai mươi lạng, chỉ cần hôm đi, tôi cho người của hắn xuống ghe một đêm.

– Bà bảo sao?

– Tôi bảo để tôi nghĩ, – bà Rạng nói, nhổ bã trầu xuống sông. – Tôi chưa nhận. Nhận rồi thì hắn tìm người khác. Chưa nhận thì hắn còn chờ tôi.

Khê Vân nhìn bà một lúc lâu.

– Bà học ai cái ấy?

– Học cô, – bà Rạng nói. – Hương đuổi muỗi, nhắn đúng như thế. Tôi nhớ.

Tháng Mười Một, trời trở rét. Gió bấc thổi dọc sông Lãng, lạnh buốt da. Muỗi hết, hương muỗi không bán được nữa. Vú Nhót khâu thêm cho Khê Vân một cái áo bông bằng vải nâu, bảo áo dì Thoa gửi đẹp quá, mặc ra bến người ta nhìn.

Mồng năm tháng Mười Một, Khoan không về.

Mồng sáu, không về. Mồng bảy, mưa.

Mưa tháng Mười Một ở Vạn Sa hiếm, nhưng năm nay lại đổ một trận dài. Người ta bảo trên nguồn mưa to hơn, sông Thâm đổ nước về đục ngầu, chảy xiết. Ghe từ nguồn xuống không dám đi. Bến Vạn Sa vắng hẳn ghe sông Thâm.

Khê Vân pha thử mẻ hương thi bằng trầm mốc. Một mẻ, hai mẻ. Mẻ nào cũng thế: tàn cong, cháy đều, mùi Khê Vân đầy đủ, chỉ có cái mùi mốc mỏng như sợi tóc nằm lẫn ở dưới. Nàng ngửi đi ngửi lại cho đến khi không còn phân biệt được mùi gì với mùi gì. Nàng bảo bà Rạng ngửi. Bà Rạng ngửi, bảo thơm. Nàng bảo vú Nhót ngửi. Vú Nhót bảo thơm. Nàng bảo thằng Cò ngửi. Thằng Cò ngửi xong, nghĩ một lúc, rồi nói:

– Thơm, mà có mùi như cái chiếu lâu không phơi.

Nàng đổ cả mẻ ấy đi.

Tối ấy thằng Cò ngồi vót tăm bên bếp, vót mãi không ngẩng lên. Một lúc lâu nó mới hỏi:

– Chị ơi, anh Khoan có biết bơi không?

– Người trên núi, – Khê Vân nói, – chắc là biết lội suối.

– Lội suối khác bơi sông, – thằng Cò nói. – Bố em ngày xưa cũng biết lội suối.

Nàng không hỏi bố nó đâu. Cả bến ai cũng biết thằng Cò mồ côi từ năm lên năm, nhưng chưa ai nghe nó kể vì sao. Nàng chỉ nhích lại gần, cầm lấy con dao vót trong tay nó, vót nốt cái chân tăm dở. Một nhát, vát xéo.

Thằng Cò nhìn cái chân tăm, rồi tựa đầu vào vai nàng, ngồi như thế đến khi bếp tàn.

Giữa những ngày chờ, có thư của dì Thoa. Thư không đến qua con Lài như lần trước, mà đến qua một chiếc ghe buôn vải, người lái được dặn đưa tận tay. Dì viết bằng chữ nôm, chữ nhỏ và nghiêng, viết vội.

Khê Nhạn không chịu cưới. Con bé đã nói thẳng với chú hai ngay trong bữa cơm, trước mặt bà nội. Chú hai không cãi, chỉ bảo thím hai từ hôm ấy giữ cửa buồng Khê Nhạn. Con bé nhịn ăn ba ngày. Bà nội đến khuyên. Cha cháu không đến. Con bé ăn lại rồi, nhưng không nói câu nào với ai. Nhà Kiều đã mang sính lễ. Ngày mồng tám tháng Giêng vẫn giữ.

Cuối thư dì viết thêm một dòng, chữ còn vội hơn:

"Tạ Lũy đi Vạn Sa nhiều lần. Cháu cẩn thận. Hộp hương thi phải tự tay cháu mang vào kho bộ Lễ, đừng nhờ ai."

Khê Vân đọc thư hai lần, rồi đốt đi trong bếp. Nàng đứng nhìn tờ giấy cháy, rồi nhìn ra bến. Mưa vẫn rơi. Sông Lãng đục ngầu.

Mồng chín, có tin từ trên nguồn.

Một chiếc ghe gỗ bị lật ở thác Cổ Ngựa, đoạn sông Thâm xiết nhất, cách Vạn Sa hai ngày ngược nước. Người ta vớt được hai người. Còn một người không thấy. Người không thấy đi một mình, đeo gùi, là người trên núi xuống.

Người kể là ông lái ghe muối dạo trước. Ông kể xong mới thấy mặt Khê Vân, thì im bặt, nhìn bà Rạng.

– Người ấy tên gì? – Khê Vân hỏi.

– Tôi không biết, cô ạ. Tôi chỉ nghe kể lại.

Mồng mười, trời tạnh. Bến Vạn Sa nắng nhạt như nước chè loãng. Đã quá hẹn năm ngày.

Khê Vân ngồi ở đầu ván cầu ghe, áo bông nâu, tay cầm mảnh lá chuối khô có hình cái móc câu. Nàng nhìn về phía cửa sông Thâm, nơi dòng nước đục từ nguồn đổ vào sông Lãng, thành một đường ranh nâu đỏ chạy dài giữa hai màu nước.

Không có chiếc ghe nào xuất hiện ở đường ranh ấy.

Còn bốn mươi ngày đến hai mươi tháng Chạp. Còn ba mươi lăm ngày đến hạn nộp hương vào kho bộ Lễ.

Nàng không có trầm.

Và người duy nhất có thể mang trầm về cho nàng, có thể đang nằm đâu đó dưới đáy thác Cổ Ngựa.

— Hết chương 13 —

Mục lục Tàn hương cong móc câu

  1. 1Ba đầu hương gãy10 phút
  2. 2Tộc phả có một nét gạch10 phút đọc
  3. 3Bến Vạn Sa9 phút đọc
  4. 4Hương muỗi hai đồng một bó9 phút đọc
  5. 5Mười cái móc câu ở sân đình10 phút đọc
  6. 6Người bán trầm không bán cho kinh thành9 phút đọc
  7. 7Ba nghìn nén cho rằm tháng Bảy9 phút đọc
  8. 8Đôi khuyên ngọc bích11 phút đọc
  9. 9Giấy niêm trên cửa chái10 phút đọc
  10. 10Hai bát tro ở công đường10 phút đọc
  11. 11Phương hương thứ nhất của mình9 phút đọc
  12. 12Ba trăm lạng10 phút đọc
  13. 13Chợ Quỳ Lĩnh hết trầm9 phút đọc
  14. 14Bốn ống nứa bịt sáp9 phút đọc
  15. 15Chân hương cắt bằng9 phút đọc
  16. 16Vôi sống dưới đáy hộp9 phút đọc
  17. 17Sân bộ Lễ ngày hai mươi tháng Chạp9 phút đọc
  18. 18Đỉnh đồng niêm phong9 phút đọc
  19. 19Một dòng viết lại9 phút đọc
  20. 20Cong mà không rơi9 phút đọc

Về truyện này

Tàn hương cong móc câu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →