AI Truyện
Tàn hương cong móc câu

🏯 Cổ đại & cung đấu

Cong mà không rơi

Tàn hương cong móc câu · Chương 20/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 20: Cong mà không rơi

– Phương Ký, – Khê Vân nói.

Sáng hai mươi lăm tháng Chạp, phòng làm việc của quan Lang trung Hồ Tri Viễn nhỏ hơn nàng tưởng, chỉ một cái án, một giá sách, một cái lò sưởi than đặt dưới chân bàn. Ông ngồi sau án, bút đã chấm mực, nghe nàng nói thì dừng tay.

– Hương Vạn Sa, – ông nói, – mà ghi Phương Ký?

– Bẩm quan, hương là của bến Vạn Sa. Cháu làm nó bằng trầm rễ một người trên núi suýt chết đuối mang về, bằng vỏ bưởi cây ông ngoại cháu trồng, bằng tăm một đứa trẻ mồ côi vót. Không ai lấy được của bến Vạn Sa cái hương ấy. – Nàng dừng lại. – Còn cái tên Phương Ký là của bà cố cháu, của bà nội, của mẹ cháu. Đầu năm nay có người mượn cái tên ấy để tráo hương trước án liệt thánh. Cháu muốn trả nó về chỗ cũ.

Quan Lang trung nhìn nàng rất lâu. Rồi ông cúi xuống, viết. Viết xong, ông xoay tờ giấy lại cho nàng xem.

Hai chữ to: Phương Ký. Bên dưới, một dòng chữ nhỏ: Hương Khê Vân, xưởng Vạn Sa.

– Bảng thì ta không khắc được nhiều chữ, – ông nói. – Nhưng sổ của bộ Lễ thì ghi được.

Ông trả nàng ba trăm lạng bạc bảo lĩnh. Lúc nàng cúi chào ra về, ông gọi lại.

– Mồng năm tháng Hai, – ông nói. – Cô đứng ở hàng các hiệu tiến cống. Ta muốn cô thấy tận mắt.

Mồng năm tháng Hai năm Mậu Thìn, trời kinh thành trong và lạnh, gió bấc thổi những đám mây mỏng như khói hương trôi qua mái ngói Thái miếu.

Khê Vân đứng ở cửa Tả, nơi các hiệu tiến cống đứng chầu. Năm ngoái, chỗ này cha nàng đứng. Năm nay ông đứng ngay bên cạnh nàng, áo the mới, khăn xếp ngay ngắn, hai tay chắp trước bụng. Ông không nói gì từ lúc bước chân ra khỏi phủ.

Từ chỗ họ đứng, không nhìn thấy được án thờ. Chỉ thấy cái sân lát đá, những hàng quan áo mũ chỉnh tề, cái đỉnh đồng lớn ở giữa sân tỏa khói nghi ngút. Không nghe thấy gì ngoài tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng xướng lễ kéo dài.

Nàng nhìn thấy ông Đắc. Ông mặc áo nâu của người làm công Thái miếu, cầm cái chổi tre đứng ở góc sân phía Đông, lưng còng, đầu cúi. Cạnh ông là ông Thủ từ già, tay bưng cái khay sơn đỏ có ba nén hương.

Ba nén ấy nàng biết. Chân vát xéo.

Rồi ông Thủ từ đi vào trong, khuất sau cánh cửa lớn.

Không thấy gì nữa. Chỉ có tiếng xướng lễ. Một tuần. Hai tuần. Gió bấc thổi qua cửa Tả buốt da. Khê Vân giấu hai tay trong ống áo. Trên búi tóc nàng có một nén hương. Không phải nén lưu Tịnh Đàn, nén ấy giờ nằm trong kho bộ Lễ, ghi vào sổ làm vật chứng. Đây là một nén Khê Vân, thằng Cò vót, chân vát, nàng cài lên tóc từ sáng như cài một cây trâm.

Cha nàng nghiêng đầu sang, nói rất khẽ:

– Năm ngoái, cha đứng đây, nghe tiếng xướng lễ dừng lại giữa chừng. Lần thứ nhất. Rồi lần thứ hai. Cả hàng các hiệu quay sang nhìn cha.

Nàng không trả lời. Nàng chỉ nghe tiếng xướng lễ, nghe nó kéo dài, kéo dài, không dừng.

Lễ tan lúc gần trưa. Các quan lần lượt ra về. Các hiệu tiến cống được phép về trước. Cha nàng đứng yên, nàng cũng đứng yên.

Một lúc lâu, cái cổng nhỏ phía Đông mở ra. Ông Đắc bước ra, tay vẫn cầm cái chổi tre. Ông đi về phía họ, chậm, lưng còng. Ông dừng lại trước mặt nàng, cách ba bước. Ông không nói câu nào.

Ông chỉ giơ một ngón tay lên, ngón trỏ chai vàng màu nghệ, rồi gập đầu ngón tay xuống, từ từ, thành hình một cái móc câu.

Rồi ông quay đi, về lại góc sân phía Đông, cầm chổi quét tiếp.

Cha nàng đưa tay lên mặt. Khê Vân đứng im, nhìn cái lưng còng ấy khuất sau cổng, và thấy gió bấc sao hôm nay buốt mắt thế.

Sáng mồng tám, dì Thoa ra tận bến Đông tiễn. Lần này dì không đi kiệu, không che rèm. Dì đi bộ từ phố Trầm Thủy, Khê Nhạn đi bên cạnh, thằng Khải chạy lăng xăng phía trước, ôm cái gối đã được khâu lại bằng chỉ đỏ, mũi khâu to và vụng, mũi khâu của Khê Vân.

Đồ hồi môn của dì đã chuộc về từ hôm hai mươi tám tháng Chạp. Nhưng hôm nay trên người dì chẳng đeo thứ gì, ngoài đôi khuyên ngọc bích.

Lúc ghe sắp rời bến, dì đưa tay lên tháo một bên khuyên, đặt vào lòng bàn tay nàng.

– Của mẹ cháu, – dì nói. – Dì giữ gần hai mươi năm. Đến lúc trả rồi.

Khê Vân nhìn viên ngọc xanh như nước ao trong lòng bàn tay mình. Rồi nàng cầm tay dì, đặt nó trở lại.

– Mẹ con đeo cho dì, dì ạ, – nàng nói. – Mẹ con mà biết dì tháo ra, mẹ con giận.

Dì Thoa đứng im. Rồi dì đeo lại chiếc khuyên, tay hơi run, phải hai lần mới xỏ được. Khê Nhạn đứng bên cạnh, nắm chặt tay mẹ, gọi với theo khi ghe đã ra giữa dòng: chị ơi, hè em xuống Vạn Sa, chị dạy em vót tăm.

Ghe bà Rạng xuôi sông Lãng về Vạn Sa.

Bà Rạng cầm lái. Vú Nhót ngồi giữa khoang. Vú lên kinh theo ghe muối từ trước Tết để ăn Tết với nàng, giờ ngồi canh mười cân bột đàn hương mua ở phố phương Nam. Mùa hè này xưởng Gò Sậy sẽ làm lại Tịnh Đàn, mà người pha phương thì ở Vạn Sa, nên bột phải pha ở đây rồi mới gửi lên. Cha nàng ngồi ở mũi ghe, quấn chăn, nhìn hai bờ sông trôi qua như nhìn một thứ ông chưa bao giờ thấy. Hai mươi năm làm chủ hiệu hương lớn nhất kinh thành, ông chưa từng xuống Vạn Sa lần nào, kể cả năm ông ngoại nàng mất. Năm ấy mẹ nàng về một mình, dắt theo nàng.

– Mẹ con ngày xưa hay kể về cái bến này, – ông nói, lúc ghe qua ghềnh Đá Mài. – Cha cứ hứa sẽ về. Cứ hứa mãi.

Bà Rạng ở đằng lái nghe thấy, khịt mũi một tiếng, không nói gì.

Chiều mồng chín, ghe vào bến.

Bụi vàng bay xuống từ xóm Cối. Tiếng cối nước thình thịch dọc con lạch. Bà cụ bán bánh đa dưới gốc gạo vẫn rao, kéo dài chữ "đây" như hát. Cha nàng đứng trên ván cầu, hắt hơi ba cái liền.

Thằng Cò đứng chờ ở đầu bến từ trưa. Nó chạy ra ôm lấy vú Nhót, rồi đứng khựng lại trước mặt cha nàng, không biết chào thế nào, cuối cùng cúi đầu thật thấp, thấp đến mức suýt ngã xuống sông.

Đinh Khoan đứng dưới gốc gạo, cái gùi mây trên vai. Tay trái anh đã tháo nẹp, cử động còn hơi cứng. Mùa xuân, anh xuôi về bán trầm như mọi năm. Anh nhìn thấy nàng, không chào, như người núi. Nhưng khi nàng lên bờ, anh bước tới, chìa tay ra.

Trên lòng bàn tay anh là cái móc câu bằng gỗ dó, gọt xong rồi, nhẵn bóng, xỏ một sợi dây chàm.

– Cô về rồi, – anh nói. – Thì tôi gọt nốt.

Nàng cầm lấy. Gỗ ấm. Thơm nhè nhẹ mùi trầm non. Nàng không nói được gì, chỉ đứng đó, cái móc câu trong tay, đến khi bà Rạng ở đằng sau gắt lên: cô đứng chắn lối thế thì ai khuân hàng.

Đêm ấy cả chái đông như hội. Bà Sim chống gậy sang. Cụ Chánh Bạ sai người mang xuống một cặp bánh chưng còn sót từ Tết. Bảy người đàn bà xóm Đình kéo nhau đến, đứng chật cả hiên. Thằng Cò ngồi trên chiếu, cầm tay cha nàng, dạy ông vót tăm.

Cha nàng vát hỏng cây thứ nhất. Rồi cây thứ hai. Đến cây thứ năm, ông vát hai nhát.

– Không được, bác ơi, – thằng Cò nói, nghiêm như ông thợ cả. – Một nhát thôi. Hai nhát là chân hương bị xơ.

Cha nàng nhìn thằng bé, rồi bật cười. Khê Vân chưa bao giờ nghe ông cười như thế, từ hồi mẹ nàng còn sống.

– Bác ở đây bao lâu hả bác? – thằng Cò hỏi.

Cha nàng nhìn cái chân tăm xơ xác trong tay mình, rồi nhìn nàng.

– Đến khi bác vát được một nhát, – ông nói.

Bà Rạng ngồi ở bậc hiên, khịt mũi lần thứ hai trong ngày, nhưng lần này thì cười.

Sáng mồng mười, Khê Vân dẫn cha lên xóm Đình.

Nền nhà ông ngoại đã được dọn sạch cỏ. Bà Sim bảo người xóm Đình làm giúp từ tháng trước, khi nghe tin nàng giữ được cái bảng. Bức tường đất đổ một nửa vẫn đó, mấy cây kèo tre đen sì vẫn gác chéo lên trời. Cái giếng đã được moi hết gạch vỡ, nước trong vắt.

Cây bưởi đào đang ra hoa.

Hoa bưởi tháng Hai trắng muốt, từng chùm nhỏ dưới lá, thơm ngọt đến mức đứng cách mười bước đã ngửi thấy. Ong bay rì rào quanh tán. Cánh hoa rụng lấm tấm trên nền đất như ai rắc gạo.

Cha nàng đứng dưới gốc bưởi rất lâu, không nói gì.

Khê Vân mở cái hộp gỗ nhỏ, lấy cái đĩa đồng của mẹ ra, đặt lên bậc đá nơi ngày xưa là bậc cửa nhà ông ngoại. Đoạn tàn cong của mẻ Tịnh Đàn năm Bính Dần vẫn nằm trên lớp tro, một năm rồi, xám lại như màu đá cuội, nhưng chưa gãy.

Nàng rút cái nén hương Khê Vân trên búi tóc xuống, đưa cho cha.

Cha nàng cầm lấy. Ông lật nó lại, theo thói quen hai mươi năm, chạm ngón tay vào chân tăm. Vát xéo, một nhát. Ông cắm nó vào lớp tro trong đĩa đồng, ngay cạnh đoạn tàn cũ, rồi châm lửa, thổi tắt.

Sợi khói bốc lên mảnh và thẳng, rồi uốn đi trong làn gió có mùi hoa bưởi.

Hai cha con ngồi xổm trước bậc đá, cằm tì lên đầu gối, như hai đứa trẻ ngồi xem kiến tha mồi.

Tàn mọc ra, màu bạc. Nửa đốt. Một đốt.

Rồi nó bắt đầu cong, cong dần, chậm rãi, về phía đoạn tàn xám cũ đang nằm trên tro, như một người cúi xuống để nghe cho rõ một câu nói rất khẽ.

Không rơi.

— Hết —

Mục lục Tàn hương cong móc câu

  1. 1Ba đầu hương gãy10 phút
  2. 2Tộc phả có một nét gạch10 phút đọc
  3. 3Bến Vạn Sa9 phút đọc
  4. 4Hương muỗi hai đồng một bó9 phút đọc
  5. 5Mười cái móc câu ở sân đình10 phút đọc
  6. 6Người bán trầm không bán cho kinh thành9 phút đọc
  7. 7Ba nghìn nén cho rằm tháng Bảy9 phút đọc
  8. 8Đôi khuyên ngọc bích11 phút đọc
  9. 9Giấy niêm trên cửa chái10 phút đọc
  10. 10Hai bát tro ở công đường10 phút đọc
  11. 11Phương hương thứ nhất của mình9 phút đọc
  12. 12Ba trăm lạng10 phút đọc
  13. 13Chợ Quỳ Lĩnh hết trầm9 phút đọc
  14. 14Bốn ống nứa bịt sáp9 phút đọc
  15. 15Chân hương cắt bằng9 phút đọc
  16. 16Vôi sống dưới đáy hộp9 phút đọc
  17. 17Sân bộ Lễ ngày hai mươi tháng Chạp9 phút đọc
  18. 18Đỉnh đồng niêm phong9 phút đọc
  19. 19Một dòng viết lại9 phút đọc
  20. 20Cong mà không rơi9 phút đọc

Về truyện này

Tàn hương cong móc câu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →