AI Truyện
Tàn hương cong móc câu

🏯 Cổ đại & cung đấu

Bến Vạn Sa

Tàn hương cong móc câu · Chương 3/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Bến Vạn Sa

Bến Vạn Sa đón hai người đàn bà bằng một trận bụi vàng.

Gió từ phía xóm Cối thổi xuống, mang theo thứ bột mịn như phấn, bám lên tóc, lên vai áo, lọt cả vào kẽ răng. Vú Nhót vừa bước khỏi tấm ván cầu đã hắt hơi ba cái liền. Khê Vân đứng yên, để cái bụi ấy bay qua mặt mình. Nàng biết mùi này. Bột bời lời mới giã, hăng và hơi ngai ngái, như vỏ cây vừa bóc. Hồi nhỏ, mẹ nàng hay nói: ở Vạn Sa, người ta biết giờ cơm chiều là nhờ tiếng cối ở xóm Cối ngừng lại.

Chiều mồng mười hai. Tiếng cối vẫn chưa ngừng, thình thịch, thình thịch dọc con lạch nhỏ chảy vào sông.

Bến đông hơn nàng nghĩ. Ghe bầu nằm sát nhau như cá phơi, mui tre cong, mạn sơn mắt đỏ. Đàn bà gánh cá chạy lên bờ, đàn ông vác bao muối xuống thuyền. Một bà cụ ngồi dưới gốc gạo bán bánh đa nướng, cứ mỗi lần lật bánh lại rao một câu "đa giòn đây", kéo dài chữ "đây" như hát. Mùi cá, mùi mắm, mùi bùn sông, và lẫn trong đó, mùi bột bời lời.

Mẹ nàng sinh ra ở đây. Ông ngoại nàng làm hương ở xóm Đình, đời ông chỉ bán cho mấy cái đình, mấy cái miếu quanh bến. Năm mười sáu tuổi, mẹ theo một chuyến ghe lên kinh bán hương, gặp cha nàng ở hiệu Phương Ký, và không về nữa. Khê Vân chỉ về Vạn Sa đúng một lần, năm sáu tuổi, để tang ông ngoại. Nàng chỉ nhớ một cây bưởi rất to và một cái giếng có nước ngọt.

Hai người hỏi đường lên xóm Đình. Một người đàn ông bán chiếu chỉ tay, rồi nhìn họ từ đầu đến chân, như đoán xem hai người đàn bà mặc áo kinh thành lên cái xóm nghèo ấy làm gì.

Nhà ông ngoại không còn.

Cái nền đất vẫn đó, cỏ mọc lút gối. Bức tường đất đổ một nửa, nửa kia nghiêng như sắp quỳ xuống. Mái rạ mục từ lâu, chỉ còn mấy cây kèo tre đen sì gác chéo lên trời. Cái giếng bị lấp một nửa bằng gạch vỡ.

Chỉ có cây bưởi là còn.

Nó đứng góc sân, to hơn nàng nhớ, tán rộng che cả nửa cái nền nhà. Gốc sần sùi, một bên vỏ bị ai cạo mất một mảng. Trên cành vẫn còn mấy quả sót từ năm ngoái, vỏ đã chuyển màu vàng sậm, chỗ lõm vào như má người già.

Vú Nhót ngồi phịch xuống bậc đá, thở dài.

– Thế này thì ở làm sao được, cô ơi.

Khê Vân không trả lời. Nàng đi tới gốc bưởi, kiễng chân hái một quả. Vỏ bưởi khô và dày, nàng lấy móng tay bấm vào, một tia tinh dầu xịt ra, thơm gắt, sạch, lấn hết mùi bùn với mùi bụi. Nàng đứng đó một lúc, cầm quả bưởi, ngửi.

Một bà cụ ở nhà bên ngó qua hàng rào dâm bụt.

– Ai đấy? Đất này có chủ đấy nhé.

– Bà ơi, cháu là con cô Hoài, – nàng nói. – Mạnh Thị Hoài, con ông Mạnh làm hương.

Bà cụ nheo mắt nhìn rất lâu. Rồi bà buông hàng rào ra, đưa tay lên miệng.

– Cái con bé năm xưa về chịu tang ông ngoại, cứ trèo lên cây bưởi không chịu xuống đấy à? Trời ơi. Mẹ mày đâu?

– Mẹ cháu mất rồi, bà ạ. Bốn năm rồi.

Bà cụ ngồi xuống ngay chỗ hàng rào, không nói gì một lúc. Rồi bà bảo: nhà này đổ từ năm lụt Kỷ Mùi, không ai ở được. Muốn trọ thì xuống bến, hỏi bà Rạng. Bà Rạng có cái chái sát bến, để không từ ngày chồng chết.

– Nhưng mà, – bà cụ nói thêm, – con mẹ ấy chua lắm. Người kinh thành nó ghét như ghét chó.

Cái chái của bà Rạng dựng sát mép sông, nửa trên đất, nửa trên cọc. Ba gian, mái lá, vách nứa, một bên kê đầy chão, mái chèo, mấy cái nồi đồng bị móp. Phía dưới là ba chiếc ghe bầu buộc vào cọc, chiếc to nhất sơn đôi mắt đỏ đã bong gần hết.

Bà Rạng đang ngồi trên mạn ghe vá lưới, miệng ngậm một cọng lạt. Bà bốn mươi bốn tuổi, người gầy và đen, hai bắp tay như hai khúc dây chão. Nghe vú Nhót trình bày xong, bà không ngẩng đầu.

– Người kinh thành à?

– Dạ, – vú Nhót nói. – Nhưng mẹ cô nhà tôi là người Vạn Sa, con ông Mạnh làm hương…

– Không cho thuê.

Vú Nhót há miệng ra rồi ngậm lại.

Khê Vân bước lên ván cầu, đứng sát mạn ghe. Nàng thấy cái lưới bà Rạng đang vá rách một lỗ to bằng cái nón, sợi gai đầu mối bị tở ra, bà buộc lại ba lần đều tuột.

– Bà nhúng đầu sợi vào nước rồi se lại hẵng buộc, – nàng nói. – Gai khô thì tuột.

Bà Rạng ngẩng lên lần đầu tiên.

– Cô biết vá lưới?

– Không. Cháu biết se sợi. Cháu se hương mười hai năm.

Bà Rạng nhìn nàng thêm một lúc, rồi nhúng đầu sợi xuống sông, se lại, buộc. Lần này nút giữ.

– Ba tiền một tháng, – bà nói. – Trả trước ba tháng. Vách thủng tự vá. Nấu ăn thì nấu ngoài hiên, cháy nhà tôi thì cô đền cả ba chiếc ghe.

Đêm đầu tiên ở Vạn Sa, Khê Vân hiểu vì sao cái chái này bỏ không.

Muỗi.

Muỗi từ bãi sậy bên kia lạch kéo sang như khói. Chúng không vo ve từng con một như muỗi kinh thành, mà rền lên thành một tiếng, đều và không dứt, như ai đó đang kéo một sợi dây đàn rất trùng. Vú Nhót trùm chăn kín đầu vẫn bị đốt sưng cả cổ tay. Khê Vân nằm nghe tiếng ấy, gãi đến rớm máu bắp chân, rồi ngồi dậy.

Ngoài hiên, có ánh lửa.

Một thằng bé chừng mười hai tuổi, gầy như que củi, đang ngồi xổm trên mũi chiếc ghe to, quạt một đống lửa trong cái chậu sành. Trong chậu là rơm với xơ dừa, ướt một nửa, khói tỏa mù mịt, cay xè. Thằng bé vừa quạt vừa ho, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng, mà vẫn quạt, vì khói tan ra tới đâu thì muỗi dạt ra tới đấy.

– Em tên gì? – nàng hỏi.

– Cò, – nó nói, không quay lại. – Em ngủ ghe cho bà Rạng. Cô là người kinh mới tới hả?

– Ừ.

– Muỗi ở đây nó cắn người kinh ác lắm. Người kinh máu ngọt.

Nàng ngồi xuống mạn ghe, cạnh cái chậu khói. Khói xộc vào mắt nàng, nàng cũng ho. Mùi rơm khét, mùi xơ dừa khét. Muỗi lùi lại thật, nhưng chỉ được một lúc. Chậu tàn lửa là chúng quay về.

– Ở đây ai cũng đốt thế này à?

– Dạ. Nhà giàu thì đốt ngải cứu, nhà nghèo đốt rơm. Dân ghe thì đốt xơ dừa. Đốt cả đêm. Ghe nào cũng có một chậu, ngủ dậy mặt đen sì, mũi đầy nhọ.

– Ngoài chợ không ai bán hương đuổi muỗi?

Thằng Cò quay sang nhìn nàng, ngạc nhiên như nàng vừa hỏi mua nước sông.

– Hương thì để thắp ông bà chứ. Ai lại đi đốt hương cho muỗi.

Khê Vân không nói gì nữa. Nàng ngồi đó đến canh tư, nhìn khói rơm, nghĩ. Ngải cứu. Vỏ bưởi. Sả. Bồ kết. Bã cưa gỗ. Một chút bời lời làm keo, se vào que tre, cháy chậm, âm ỉ suốt đêm, không ngọn lửa, không cay mắt. Mẹ nàng từng làm thứ ấy, một lần, cho cái chái chứa củi ở xưởng Gò Sậy mùa hè năm nàng mười ba. Thợ nằm nghỉ trưa không bị muỗi đốt. Cha nàng cười bảo: hương Ngự hương mà đem đuổi muỗi, ông cố ở dưới mộ chắc phải ngồi dậy. Mẹ nàng không làm nữa.

Sáng hôm sau, nàng xách giỏ ra chợ bến.

Cả chợ có đúng một hiệu bán hương, của ông Lò, gian hàng nhỏ cạnh đình. Hương thắp dài một sải tay, que tre to như chiếc đũa, bột nâu sậm, rắc phẩm đỏ ở chân. Nàng mua một bó năm đồng, mang về đốt thử. Hương cháy nhanh, khói nhiều, mùi bột gỗ tạp, ít trầm, tàn rụng từng mảng. Hương rẻ, cho người nghèo cúng.

Nàng đi tiếp, hỏi chỗ bán ngải, chỗ bán sả, hỏi giá bồ kết khô. Giá ở đây rẻ bằng một nửa kinh thành. Bã cưa thì ở xưởng đóng ghe đầu bến người ta cho không, chỉ cần tự xúc.

Còn thiếu bột bời lời.

Nàng đi lên xóm Cối. Con lạch nhỏ chạy dọc một dãy nhà sàn thấp, nhà nào cũng có một cái cối giã chạy bằng sức nước: cái guồng tre quay dưới lạch, đẩy cái chày gỗ to như thân người lên rồi thả xuống. Thình thịch, thình thịch. Bụi vàng bay mù cả xóm. Đàn bà trùm khăn kín mặt, chỉ chừa đôi mắt, ngồi sàng bột.

Cối to nhất xóm là của lão Mão. Lão ngồi trên sàn nhà, gẩy bàn tính.

– Bột bời lời? Cô mua bao nhiêu?

– Mười cân.

Lão nhìn nàng một cái, rồi lại cúi xuống bàn tính.

– Không bán lẻ.

– Thế bao nhiêu thì lão bán?

– Không bán, – lão nói. – Hết rồi. Có người đặt hết cả năm rồi.

Cả cái xóm đang thình thịch giã bột, mà bột hết rồi. Khê Vân đứng dưới sàn nhà lão Mão một lúc, rồi đi sang cối thứ hai, cối thứ ba. Nhà nào cũng một câu: hết rồi, có người đặt hết rồi. Một bà sàng bột kéo khăn xuống, định nói gì đó, bị ông chồng trong nhà ho một tiếng, lại kéo khăn lên.

Nàng về đến chái thì đã quá trưa. Bà Rạng đang ngồi ở hiên, trước mặt là ba cái chén với một ấm chè xanh, như đã chờ sẵn.

– Ngồi xuống đây, – bà nói.

Khê Vân ngồi xuống.

Bà Rạng rót chè, rót cho nàng, rót cho vú Nhót, rồi rót cho mình. Bà uống một ngụm, đặt chén xuống, và nói như kể chuyện thời tiết:

– Ba hôm trước, trước khi cô tới, có một chiếc thuyền khoái từ kinh xuống. Một người đàn ông mặc áo dài lụa nâu, đi hỏi khắp bến xem có đứa con gái nào tên Khê Vân, con cô Hoài, về đây không. Ông ta đưa cho tôi một lạng bạc. Bảo hễ cô tới thì cô làm gì, mua gì, gặp ai, cứ mỗi tháng nhắn một lần theo ghe muối lên phố Trầm Thủy.

Bà thò tay vào túi áo, lấy ra một nén bạc nhỏ, đặt lên mặt bàn giữa ba cái chén.

– Tôi nhận rồi đấy, – bà Rạng nói. – Giờ cô tính sao?

— Hết chương 3 —

Mục lục Tàn hương cong móc câu

  1. 1Ba đầu hương gãy10 phút
  2. 2Tộc phả có một nét gạch10 phút đọc
  3. 3Bến Vạn Sa9 phút đọc
  4. 4Hương muỗi hai đồng một bó9 phút đọc
  5. 5Mười cái móc câu ở sân đình10 phút đọc
  6. 6Người bán trầm không bán cho kinh thành9 phút đọc
  7. 7Ba nghìn nén cho rằm tháng Bảy9 phút đọc
  8. 8Đôi khuyên ngọc bích11 phút đọc
  9. 9Giấy niêm trên cửa chái10 phút đọc
  10. 10Hai bát tro ở công đường10 phút đọc
  11. 11Phương hương thứ nhất của mình9 phút đọc
  12. 12Ba trăm lạng10 phút đọc
  13. 13Chợ Quỳ Lĩnh hết trầm9 phút đọc
  14. 14Bốn ống nứa bịt sáp9 phút đọc
  15. 15Chân hương cắt bằng9 phút đọc
  16. 16Vôi sống dưới đáy hộp9 phút đọc
  17. 17Sân bộ Lễ ngày hai mươi tháng Chạp9 phút đọc
  18. 18Đỉnh đồng niêm phong9 phút đọc
  19. 19Một dòng viết lại9 phút đọc
  20. 20Cong mà không rơi9 phút đọc

Về truyện này

Tàn hương cong móc câu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →