Chương 7: Ba nghìn nén cho rằm tháng Bảy
Khê Vân không ngủ lại được đêm ấy. Nàng ngồi ở hiên chái cho đến khi chiếc thuyền khoái mui đen lướt qua trước mặt bến, xuôi ra sông lớn, nhẹ như một con cá trê bơi đêm. Tạ Lũy ngồi giữa khoang, quay lưng về phía bờ.
Sáng ra, nàng kể cho vú Nhót. Vú Nhót nghe xong thì ngồi bệt xuống đất, hai tay ôm lấy đầu gối, như người bị cảm.
– Ông Lũy, – vú lẩm bẩm. – Ông Lũy ấy mà. Tết năm nào cũng mừng tuổi cô một quan.
– Ông ấy làm cho chú hai hai mươi năm, vú ạ. Chú bảo gì ông ấy làm nấy.
– Thế thì lên quan mà trình! Cô cầm cái bao bột lên nha môn, kể hết ra.
– Con trình gì? – Khê Vân hỏi. – Con trình là con ngửi thấy mùi chua? Bao bột ấy con có từ một người làm thuê sợ mất việc, người ta sẽ chối. Lão Mão sẽ chối. Ông Lũy chỉ cần nói ông ấy xuống Vạn Sa mua bời lời cho xưởng. Xưởng Gò Sậy năm nào chẳng mua bời lời ở đây.
Vú Nhót im. Rồi vú nói một câu mà Khê Vân nhớ rất lâu:
– Thế thì cô làm cho lão Mão phải cần đến cô.
Tháng Sáu, mưa đầu mùa đổ xuống bến Vạn Sa, nước sông Lãng đỏ quạch như nước gạch. Hương muỗi bán chậm lại, vì mưa thì muỗi ít. Nhưng hương thờ thì bắt đầu chạy.
Sau hội đình, cụ Chánh Bạ đi đâu cũng khoe hương nhà ông Mạnh đã về. Đình làng Vạn Thượng, cách một khúc sông, đặt một trăm nén. Ngôi chùa nhỏ sau đồi Ông Tượng, nơi nàng nhặt cành bời lời, đặt năm mươi nén cho ngày rằm. Mấy nhà khá giả ở phố chợ đặt hương giỗ. Mỗi đơn chỉ vài chục, vài trăm nén. Bột bời lời tự giã vẫn còn kham nổi.
Rồi một buổi chiều đầu tháng Sáu, một người đàn bà lạ đến chái.
Bà ta chừng bốn mươi, mặc áo the xám, đi một chiếc thuyền con có người chèo thuê. Bà không xưng tên, chỉ nói là người làm cho một bà khách trong kinh. Bà khách có lòng mộ đạo, muốn cúng hương cho một ngôi chùa ở ngoại ô kinh thành vào dịp rằm tháng Bảy.
– Ba nghìn nén, – người đàn bà nói. – Hương trầm, loại tốt nhất cô làm được. Giao chậm nhất ngày mười hai tháng Bảy, tại bến Đông.
Vú Nhót đánh rơi cái rổ.
Ba nghìn nén. Gấp mười lần đơn hội đình. Gấp năm lần mẻ hương Thái miếu.
– Bà khách của bà là ai? – Khê Vân hỏi.
– Bà khách dặn không nói tên. Chỉ dặn cô một điều: phải dùng trầm thật.
Người đàn bà mở một cái túi vải, đặt lên chiếu bốn mươi lạng bạc. Một nửa tiền. Nửa còn lại trả khi giao hàng.
Khi chiếc thuyền con đã đi khuất, bà Rạng từ dưới ghe trèo lên, nhìn đống bạc trên chiếu, huýt một tiếng sáo dài.
– Có người ở kinh thành thương cô đấy, – bà nói.
– Hoặc có người muốn cháu nhận một đơn không làm nổi, – Khê Vân nói, – rồi đi khắp kinh thành bảo cháu bội tín.
Bà Rạng nhíu mày, ngẫm nghĩ, rồi gật đầu.
– Cũng có thể. Thế cô nhận không?
Khê Vân nhìn đống bạc. Bốn mươi lạng. Trả được cho Đinh Khoan tám cân trầm thật. Trả công cho mười người làm suốt hai tháng.
– Nhận, – nàng nói. – Nhưng cháu cần bột bời lời. Ba nghìn nén thì tự giã không kịp.
Ngày hôm sau, Khê Vân đi lên xóm Cối, một mình.
Lão Mão đang ngồi đúng chỗ cũ, trên sàn nhà, bàn tính gỗ để trên đùi. Lão thấy nàng thì không ngẩng đầu, ngón tay vẫn gẩy lách cách.
– Bột hết rồi.
– Cháu không đến mua bột, – nàng nói. – Cháu đến hỏi lão một chuyện. Cuối tháng Giêng, lão đóng cửa cối hai đêm, giã ba bao bời lời trộn bột sắn ủ chua. Người kinh lấy hai bao, đi thuyền đêm. Đêm mười hai tháng Năm, ông Tạ Lũy quản sự xưởng Gò Sậy vào nhà lão lúc canh ba.
Tiếng bàn tính dừng lại.
Lão Mão ngẩng lên. Lão sáu mươi tuổi, mặt vuông, da sần như vỏ bời lời, cặp mắt nhỏ và tinh. Lão nhìn nàng một lúc lâu, không nói gì. Rồi lão quay vào trong nhà, nói to:
– Thằng Cả! Ra xem cối, tao bận khách.
Lão xuống thang, đứng trước mặt nàng.
– Cô muốn gì?
– Cháu muốn biết lão có biết hai bao bột ấy dùng vào việc gì không.
– Người ta bảo thử làm keo rẻ cho hương chợ.
– Hai bao bột ấy làm thành sáu trăm nén hương, – Khê Vân nói, giọng không to. – Sáu trăm nén ấy vào ba mươi cái hộp niêm sáp Phương Ký. Rồi được cắm trước án liệt thánh ở Thái miếu, sáng mồng năm tháng Hai. Ba nén tắt trước mặt Hoàng thượng. Lão có nghe tin ấy không?
Mặt lão Mão đổi màu. Nàng chưa từng thấy một người da đen sạm mà lại tái đi nhanh như thế. Lão đưa tay vịn vào cái cột nhà sàn.
– Lão không biết, – nàng nói tiếp. – Cháu tin là lão không biết. Nhưng nếu một ngày quan bộ Lễ tra ra, thì người làm bột không biết cũng là người làm bột. Tội làm hỏng việc tế ở Thái miếu, lão biết nặng thế nào.
– Cô định đi trình quan à?
– Không. Chưa. Cháu chỉ cần hai thứ. Một là lão bán cho cháu bột bời lời, đủ ba nghìn nén, giá đúng giá chợ, giao ban đêm cũng được. Hai là lão cho cháu biết người lấy bột tháng Giêng là ai.
Lão Mão đứng im rất lâu. Dưới lạch, cái guồng tre vẫn quay, chày gỗ vẫn nện thình thịch xuống lòng cối.
– Người lấy bột tháng Giêng, – cuối cùng lão nói, rất khẽ, – không phải ông Lũy. Ông Lũy chỉ dẫn đường. Người đặt hàng, người trả tiền, là một ông khác, áo xanh, nói giọng kinh, đeo túi thêu chữ Kiều. Hắn bảo hắn là quản sự hiệu Kiều Thịnh. Từ tháng Hai, ông Lũy đã dặn cả xóm không ai được bán bột cho cô. Tháng trước ông ấy xuống lại, đưa lão hai mươi lạng, dặn thêm: đừng nói với ai.
– Lão có dám nói lại câu ấy trước quan không?
Lão Mão lắc đầu, lắc rất mạnh.
– Lão nói với cô thôi. Lão còn cái cối, còn bốn đứa con. Bột thì lão bán. Đêm mai, canh hai, cho thuyền vào bến sau nhà.
Hai tháng sau đó, cái chái của bà Rạng biến thành một cái xưởng.
Khê Vân thuê bảy người đàn bà ở xóm Đình, trả mỗi người một tiền một ngày, nhiều hơn tiền sàng bột ở xóm Cối. Bà Sim nhận trông coi giàn phơi. Thằng Cò dạy lại cho ba đứa trẻ con vót tăm, và nó dạy y như nàng dạy nó: vát xéo, một nhát, không được hai. Đứa nào vát hai nhát, nó bắt vót lại.
Đinh Khoan không có ở Vạn Sa. Nàng nhờ một chiếc ghe ngược sông Thâm mang thư lên Quỳ Lĩnh. Mười hai ngày sau, một người ở làng Khe Chè xuôi xuống, cõng tám cân trầm loại một, nói anh Khoan gửi, giá như cũ, tiền trả sau cũng được. Kèm theo là một mẩu lá chuối khô, trên đó Khoan vẽ bằng than một hình cái móc câu. Không có chữ nào. Khê Vân nhìn hình ấy một lúc rất lâu, không hiểu sao lại thấy buồn cười.
Mưa tháng Sáu, tháng Bảy làm hương lâu khô. Nàng dựng thêm hai cái giàn có mái che, đốt than dưới gầm để hong. Vôi sống lót các hũ được thay ba ngày một lần. Ngày nào nàng cũng rút ngẫu nhiên năm nén trong mẻ, đốt thử trên cái đĩa đồng của mẹ, đặt bên cạnh đoạn tàn cong cũ. Mẻ nào tàn rơi, cả mẻ ấy đem đi bán làm hương chợ.
Ngày mồng chín tháng Bảy, ba nghìn nén hương nằm trong một trăm năm mươi hộp gỗ thông, mỗi hộp hai mươi nén, xếp chật hai khoang ghe bầu của bà Rạng.
Bà Rạng tự cầm lái.
– Bà bảo bà không chở cho người kinh, – Khê Vân nói.
– Tôi không chở cho người kinh, – bà Rạng đáp, tay cởi dây neo. – Tôi chở hương của cô. Người nhận là ai tôi không biết, mà cũng chẳng cần biết.
Ghe đi năm ngày. Ngược nước ba ngày lên kinh, xuôi về hai ngày.
Khê Vân ngồi ở hiên mà không làm được việc gì. Nàng tưởng tượng đủ cảnh: người đàn bà áo the xám không ra nhận, ghe đậu ở bến Đông ba ngày, bà Rạng ném cả một trăm năm mươi hộp xuống sông. Hoặc người ta nhận rồi, đốt thử, rồi kêu là hương tắt. Tối nào nàng cũng mở cái hộp gỗ nhỏ, nhìn đoạn tàn cong trong đĩa đồng, rồi lại đậy.
Ngày mười bốn tháng Bảy, ghe bà Rạng về. Bà nhảy lên bến trước khi ghe kịp cập, ném lên chiếu cái túi vải căng phồng.
– Bốn mươi lạng, – bà nói. – Đủ. Người ta không mở hộp, không đếm, không đốt thử. Bê thẳng lên xe.
– Ai nhận?
Bà Rạng ngồi xuống, rót chè, uống một hơi.
– Một cái kiệu che rèm kín đậu ở đầu bến. Người đàn bà áo the xám bê hộp lên xe. Người ngồi trong kiệu không xuống. Lúc xe đi rồi, cái rèm kiệu hé ra một lần, chỉ một lần thôi, chắc là muốn xem hương lên xe hết chưa. Tôi đứng ngay đó. Một người đàn bà chừng bốn mươi, mặt trắng, đẹp. Hai tai đeo đôi khuyên ngọc, xanh như nước ao.
Chén chè trên tay Khê Vân nghiêng đi. Nước chè đổ xuống chiếu, nàng không thấy.
– Bà ấy nhìn tôi, – bà Rạng nói tiếp, – rồi hỏi một câu duy nhất: "Con bé có khỏe không?" Rồi buông rèm.
Sáu ngày sau, chiều hai mươi tháng Bảy, một chiếc thuyền mui đen, không phải thuyền khoái mà là loại thuyền gỗ thường của nhà khá giả, ghé vào bến ngay trước chái bà Rạng.
Rèm khoang vén lên. Một người đàn bà bước xuống tấm ván cầu, áo the màu lam sẫm, tóc vấn gọn không cài trâm. Bà dừng lại ở đầu ván, nhìn lên hiên chái, nơi Khê Vân đang đứng với nắm tăm tre trong tay.
Đôi khuyên ngọc bích đung đưa khi bà ngẩng đầu.
– Khê Vân, – dì Thoa nói. – Dì chỉ ở được một đêm. Cháu cho dì vào nhà được không?
— Hết chương 7 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe