AI Truyện
Tàn hương cong móc câu

🏯 Cổ đại & cung đấu

Bốn ống nứa bịt sáp

Tàn hương cong móc câu · Chương 14/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 14: Bốn ống nứa bịt sáp

Chiều mồng mười ba tháng Mười Một, một cái bè nứa trôi vào bến Vạn Sa.

Thằng Cò nhìn thấy trước. Nó đang ngồi trên mũi ghe giặt áo, bỗng đứng phắt dậy, cái áo rơi tõm xuống sông. Nó không thèm vớt.

– Chị ơi! Chị ơi!

Cái bè nhỏ, chỉ sáu cây nứa buộc bằng dây mây, lềnh bềnh như một tàu lá. Một người đàn ông ngồi trên đó, chống một cây sào bằng một tay. Tay kia buộc vào ngực bằng một mảnh vải chàm. Cái gùi mây đặt giữa bè, buộc chặt vào nứa.

Khê Vân chạy xuống bến lúc cái bè vừa chạm cọc. Nàng không biết mình đã chạy, chỉ biết khi dừng lại thì chân đã ướt đến đầu gối, nước sông tháng Mười Một lạnh buốt như dao cứa.

Đinh Khoan ngẩng lên. Mặt anh gầy rộc, râu lởm chởm, một vết xước dài từ thái dương xuống tận cằm đã đóng vảy. Anh nhìn nàng đứng dưới nước, nhíu mày.

– Cô lên bờ đi, – anh nói. – Lạnh.

Đấy là câu đầu tiên. Câu thứ hai là:

– Bốn cân. Không được mười. Bốn cân thôi.

Đêm ấy, bên bếp lửa trong chái, cánh tay trái của Khoan được ông lang xóm Đình nắn lại, bó nẹp tre. Không gãy, chỉ trật khớp vai và rạn một chỗ ở cổ tay. Vú Nhót nấu một nồi cháo gừng to. Bà Rạng mang lên một vò rượu. Thằng Cò ngồi sát bên Khoan, không chịu xa nửa bước.

Anh kể chậm, từng đoạn, như người trên núi kể chuyện.

Làng nhận tiền hiệu Kiều. Anh không trách. Mẹ anh cũng nhận, vì cái nợ ghi trên vách là nợ của cha anh. Nhưng anh đã hứa với nàng. Anh đi rừng Đá Đen một mình, nơi người làng không vào vì đường dốc và nhiều vực, chỉ ông nội anh ngày xưa đi. Ông nội để lại cho anh một mẩu vỏ cây có khắc dấu những gốc dó già ông tìm thấy, cái nào ông chưa lấy hết.

Hai mươi ngày trong rừng. Ba gốc dó, hai gốc đã có người đốn trước. Gốc thứ ba nằm dưới một vách đá, rễ ăn ra tận mép suối. Anh đào rễ. Trầm ở rễ, đen và nặng, dầu đặc như sáp ong.

Lúc xuôi về, anh đi nhờ ghe một người buôn mật ong. Đến thác Cổ Ngựa thì ghe lật.

– Tôi biết thác ấy dữ, – Khoan nói. – Nên trước khi đi tôi chẻ ống nứa, cho trầm vào, bịt hai đầu bằng sáp ong, buộc vào gùi. Ống nứa nổi. Gùi mây nổi. Tôi thì chìm.

Anh cười, cái cười lệch một bên mép.

– Tôi bám được vào một gốc cây trôi. Dạt vào bờ cách thác nửa ngày. Ngất. Tỉnh dậy, cái gùi nằm ngay cạnh, mắc vào bụi lau. Tôi đi bộ ba ngày, rồi chặt nứa làm bè.

Khê Vân ngồi im. Nàng không biết nói gì. Mọi câu nàng nghĩ ra đều quá nhỏ.

– Anh có thể chết, – cuối cùng nàng nói.

– Ừ, – Khoan nói. – Nhưng tôi không chết.

Anh nhấc cái gùi mây lên bằng tay phải, đặt trước mặt nàng. Bốn ống nứa bịt sáp nằm trong đó, ống nào cũng sứt mẻ, xước xát. Nàng cầm con dao nhỏ, cạo lớp sáp ở đầu một ống, mở ra.

Mùi trầm bốc lên, lấp đầy cả cái chái nhỏ.

Không giống trầm Quỳ Lĩnh loại một nàng đã dùng. Sâu hơn. Tối hơn. Có cái gì đó ẩm như đất dưới gốc cây cổ thụ, rồi ngọt như mật, rồi cay nhẹ ở cuối như vỏ quế non, dù trong ống không có lấy một mẩu quế. Vú Nhót đang múc cháo dừng tay. Bà Rạng đặt chén rượu xuống. Cả thằng Cò cũng thôi nói.

– Trầm rễ, – Khoan nói. – Gốc dó ấy ít nhất trăm năm.

Khê Vân không trả lời. Nàng cúi xuống, áp mặt vào miệng ống nứa, nhắm mắt lại, như người ta áp tai vào ngực ai đó để nghe tim đập.

Hôm sau, nàng tính.

Mười hộp, hai trăm nén nộp cho bộ Lễ. Thêm hai trăm nén để thử, để chọn, để dự phòng. Bốn trăm nén hương Khê Vân thì cần chừng một cân rưỡi trầm. Bốn cân là đủ, thừa.

Nhưng trầm rễ không giống trầm thân. Dầu đặc hơn, cháy chậm hơn, mùi mạnh hơn. Phương cũ phải chỉnh lại từ đầu. Bớt trầm. Bớt cả hương bài, vì trầm rễ đã có sẵn mùi đất. Vỏ bưởi giữ nguyên, lá bưởi tăng thêm một chút cho cái đầu mùi sáng lên, không để trầm rễ nuốt mất.

Tám ngày, nàng pha sáu mẻ thử. Mỗi mẻ hai mươi nén, đốt hai nén trên đĩa đồng của mẹ, mười tám nén cất vào hũ vôi, ba ngày sau đốt tiếp để xem hương có ngậm ẩm không. Bà Sim ngồi canh giàn phơi từ sáng tới tối, có hôm ngủ gật ngay trên ghế. Hai người đàn bà xóm Đình giã bời lời và sàng bột, nàng trả công bằng chỗ tiền bán hương cầu an cho đình.

Thằng Cò vót bốn trăm cây tăm. Nàng không để ai vót, chỉ nó. Tre ngâm ba tháng, chẻ đều, phơi khô, vót tròn, mỗi cây dài đúng một gang rưỡi. Chân tăm vát xéo một nhát.

Nàng kiểm từng cây. Có ba cây vát hai nhát, nàng nhặt ra. Thằng Cò đỏ mặt, cầm ba cây ấy ra bếp bẻ đôi.

Mẻ thứ sáu thì được.

Nàng đốt một nén lên đĩa đồng. Trời hôm ấy hửng nắng, gió bấc ngưng, mặt sông phẳng như tấm kính mờ. Sợi khói bay lên thẳng tắp. Đầu tiên là lá bưởi, sáng và mát. Rồi trầm rễ đến, chậm rãi, đậm một nhịp, nhạt một nhịp. Rồi hương bài nằm dưới đáy, rất mỏng, như mùi bãi bồi lúc nước rút. Rồi cuối cùng, khi hương đã cháy quá nửa, có một vị cay ấm rất lạ. Nàng không pha thứ ấy, cũng không biết nó từ đâu đến, như là trầm rễ tự mang theo từ cái vách đá trên rừng Đá Đen.

Tàn cong. Cong như móc câu, cạnh đoạn tàn cũ của mẻ Tịnh Đàn năm ngoái. Hai cái tàn nằm cạnh nhau trên lớp tro, một xám, một bạc.

Nàng ngồi nhìn hai cái tàn ấy rất lâu. Rồi nàng quay sang Khoan, người đang ngồi trên bậc hiên với cánh tay bó nẹp.

– Anh ngửi đi.

Khoan cúi xuống ngửi. Lâu. Rồi anh ngẩng lên.

– Đây là cái gốc dó ấy, – anh nói. – Tôi ngửi thấy cái vách đá.

Mẻ thứ bảy pha đúng như mẻ thứ sáu, bốn trăm nén. Phơi năm nắng, hong thêm hai đêm bên bếp than. Cất vào hũ vôi. Ngày hai mươi bảy tháng Mười Một, nàng chọn ra hai trăm nén đẹp nhất, xếp vào mười hộp gỗ thông, mỗi hộp hai mươi nén.

Nàng không có dấu sáp của hiệu. Bà Sim lục trong rương nhà bà ra một mẩu gỗ thị cũ, bảo của ông chồng bà ngày xưa khắc dấu bánh in. Thằng Cò mài phẳng một mặt. Khê Vân lấy con dao vót tăm, khắc lên đó một hình cây bưởi nhỏ, ba cành, mấy quả tròn. Không có chữ.

Mười hộp, niêm sáp đỏ, dấu cây bưởi.

Đêm hai mươi bảy, bà Rạng xuống ghe, nói với Tạ Lũy, người đã ngồi chờ ở quán đầu bến từ chiều:

– Tôi nhận chở. Mồng năm tháng Chạp ghe đi, chở mười hộp. Cái người của ông muốn xuống ghe thì mồng bốn xuống.

Tạ Lũy đưa bà hai mươi lạng, đi về thuyền khoái, chân trái lệch nhịp trên ván cầu.

Bà Rạng mang hai mươi lạng ấy lên chái, đặt lên chiếu.

– Mua thêm vôi, – bà nói. – Với mua cho thằng Khoan con gà.

Giữa lúc ấy có thư dì Thoa. Lần này không phải ghe vải, mà là con Lài tự đến, đi ghe buôn chiếu, mặt tái mét vì say sóng.

Thư ngắn, chữ nôm nghiêng.

"Ông Đắc không còn ở xưởng Gò Sậy từ tháng Chín. Chú hai bảo ông già yếu cho nghỉ. Nhưng con Lài thấy ông ba lần, đêm khuya, đi vào cửa sau xưởng Kiều Thịnh ở bờ kênh Đông Thuận. Thằng Tý cháu ông năm ngoái say rượu đánh xe ngựa làm gãy chân con nhà hàng cá ở chợ Cửa Nam, nhà kia đòi kiện lên phủ. Chú hai bỏ tiền ra dàn xếp. Dì chỉ biết thế."

Khê Vân đọc thư, rồi gấp lại, đưa vào ngọn lửa bếp.

Bốn mươi năm ông Đắc làm cho họ Phương. Chưa bao giờ ông bước chân vào một xưởng hương khác. Ông bảo: thợ có một chủ như vợ có một chồng.

Nàng nghĩ đến cái lưng còng trong đêm mồng ba tháng Hai mà dì Thoa nhìn thấy. Nghĩ đến dấu điểm chỉ son đỏ, ngón cái chai cứng, dưới tờ khai mà nàng biết là sai từng chữ.

Nàng đã nói với dì Thoa: cả xưởng ai cũng có thể làm, trừ ông Đắc.

Đêm trước khi đi, nàng ra hiên, thấy Khoan ngồi đó, tay phải đang cầm con dao nhỏ gọt một mẩu gỗ.

– Anh chưa ngủ à?

– Tay đau, – anh nói. Rồi anh chìa mẩu gỗ ra. Một cái móc câu nhỏ bằng gỗ dó, gọt chưa xong, còn xơ. – Ở làng tôi, người đi xa thì mang theo một cái móc câu, để nhớ đường về chỗ có nước.

Nàng cầm lấy. Mẩu gỗ còn ấm hơi tay anh, thơm nhè nhẹ mùi trầm non.

– Chưa gọt xong, – nàng nói.

– Cô về thì tôi gọt nốt.

Sáng hai mươi tám tháng Mười Một, khi trời còn tối, một chiếc ghe nhỏ của bà Rạng rời bến Vạn Sa, ngược sông Lãng. Không phải chiếc ghe to sơn mắt đỏ mà Tạ Lũy đã trả tiền thuê cho mồng năm tháng Chạp. Trên ghe có bà Rạng cầm lái, Khê Vân, và mười hộp gỗ thông bọc trong một tấm chăn bông lót vôi sống.

Khoan đứng trên bến, cánh tay vẫn bó nẹp. Anh không chào, như người núi. Nhưng anh đứng đó cho đến khi ghe khuất sau bãi sậy, nàng ngoái lại vẫn thấy.

Ba ngày sau, chiều mồng một tháng Chạp, Khê Vân gõ cửa một ngôi nhà tranh thấp ở cuối xóm Gò Sậy, cách cái xưởng nàng bị cấm bước chân vào chỉ một con mương.

Cửa mở. Ông Đắc đứng đó, lưng còng hơn nàng nhớ, tóc bạc trắng, bàn tay chai vàng màu nghệ bám vào khung cửa.

Ông nhìn nàng rất lâu. Rồi ông nói, giọng khàn:

– Tôi biết thế nào cô cũng đến.

— Hết chương 14 —

Mục lục Tàn hương cong móc câu

  1. 1Ba đầu hương gãy10 phút
  2. 2Tộc phả có một nét gạch10 phút đọc
  3. 3Bến Vạn Sa9 phút đọc
  4. 4Hương muỗi hai đồng một bó9 phút đọc
  5. 5Mười cái móc câu ở sân đình10 phút đọc
  6. 6Người bán trầm không bán cho kinh thành9 phút đọc
  7. 7Ba nghìn nén cho rằm tháng Bảy9 phút đọc
  8. 8Đôi khuyên ngọc bích11 phút đọc
  9. 9Giấy niêm trên cửa chái10 phút đọc
  10. 10Hai bát tro ở công đường10 phút đọc
  11. 11Phương hương thứ nhất của mình9 phút đọc
  12. 12Ba trăm lạng10 phút đọc
  13. 13Chợ Quỳ Lĩnh hết trầm9 phút đọc
  14. 14Bốn ống nứa bịt sáp9 phút đọc
  15. 15Chân hương cắt bằng9 phút đọc
  16. 16Vôi sống dưới đáy hộp9 phút đọc
  17. 17Sân bộ Lễ ngày hai mươi tháng Chạp9 phút đọc
  18. 18Đỉnh đồng niêm phong9 phút đọc
  19. 19Một dòng viết lại9 phút đọc
  20. 20Cong mà không rơi9 phút đọc

Về truyện này

Tàn hương cong móc câu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →