AI Truyện
Tàn hương cong móc câu

🏯 Cổ đại & cung đấu

Mười cái móc câu ở sân đình

Tàn hương cong móc câu · Chương 5/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 5: Mười cái móc câu ở sân đình

Đêm ấy Khê Vân se năm que hương bằng thứ bột trong cái bao gai.

Nàng không cho trầm, không cho ngải, chỉ trộn bột bời lời chua ấy với bã cưa, đúng tỷ lệ keo của hương thờ nhà họ Phương, se vào năm cái tăm thằng Cò vót. Phơi hai ngày trên giàn sau chái, nắng tháng Tư gắt đến mức vách nứa nóng bỏng tay. Ngày thứ ba, nàng cắm năm que vào bát tro, châm lửa.

Que thứ nhất cháy được nửa tấc thì tắt. Que thứ hai cháy âm ỉ, khói đặc và vàng, mùi chua bốc lên khét lẹt, rồi tắt. Que thứ ba gãy ngang khi nàng chạm ngón tay vào. Que thứ tư và thứ năm cũng thế. Tàn của cả năm que vón thành cục, màu xám trắng, rơi xuống bát tro như người ho.

Vú Nhót đứng sau lưng nàng, không dám thở mạnh.

– Phơi hai nắng mà lõi vẫn ẩm, – Khê Vân nói, như nói với chính mình. – Trong bột có thứ gì đó hút nước. Ngoài trời thì khô, đem vào chỗ kín, vào hộp gỗ, vào kho có mái, nó lại ngậm hơi ẩm. Cháy ngoài mặt, trong ruột không cháy.

– Là cái gì hả cô?

Nàng bốc một nhúm bột cho vào chén nước, khuấy, để lắng. Lớp trên là vụn vỏ cây nổi lềnh bềnh. Lớp dưới lắng xuống thành một lớp bột trắng đục, mịn và dính, sờ vào nhờn tay như hồ dán.

– Bột sắn, – nàng nói. – Bột sắn ướt, để lên men cho chua. Trộn vào bời lời thì màu không khác mấy, se vẫn dính, phơi vẫn khô mặt. Chỉ có điều, đốt lên thì không cháy được.

Vú Nhót ngồi phịch xuống chiếu.

Khê Vân buộc miệng bao gai lại thật chặt, cho vào cái hũ sành có nắp, đặt sâu dưới gầm giường. Rồi nàng ngồi nhìn cái hũ ấy cả buổi tối.

Nàng muốn chạy ngay lên xóm Cối, túm áo lão Mão mà hỏi: ai đã đặt thứ bột này? Ai trả lại? Nhưng thằng Cò đã nói, bà Tư Sàng dặn đừng nói ra. Bà Tư Sàng là người làm thuê sàng bột cho lão Mão, chồng ốm liệt, ba đứa con nhỏ. Nàng mà lên hỏi, lão Mão sẽ biết ngay cái bao này từ đâu ra.

Nàng chờ. Bốn năm giữ phương hương dưới tay chú hai, nàng đã học được một điều từ chính chú: người vội là người để lộ tay.

Tháng Năm, tin đồn bắt đầu.

Nàng không biết nó bắt đầu từ đâu. Chỉ biết một buổi sáng, chị vợ người kéo lưới ở lạch sậy, người đã treo xâu cá diếc lên cột hiên, đứng ngoài chái rất lâu, rồi bỏ đi mà không mua. Chiều hôm ấy, chỉ có mười một người đến mua. Hôm sau, bảy người.

Bà Rạng là người nói cho nàng biết.

– Có người đi khắp bến nói cô là đứa làm tắt hương trước Thái miếu, bị họ đuổi ra khỏi nhà, – bà nói, giọng như kể chuyện mưa nắng. – Nói hương cô làm là hương bất kính, đốt lên thì rước xui vào nhà. Đàn bà ghe họ sợ lắm. Họ không sợ muỗi bằng sợ xui.

– Ai nói?

– Một người lạ, đi thuyền khoái, uống rượu ở quán đầu bến ba buổi trưa liền, ai đi qua cũng mời một chén. Rồi ông Lò ở đình kể lại cho cả chợ nghe. Ông Lò kể hay lắm, kể đến đâu là có thêm thắt đến đấy.

Khê Vân đứng dậy, đi ra hiên, nhìn xuống bến. Mấy chiếc ghe muối đang đốt chậu rơm trên mũi, khói cay xè bay ngang mặt nước. Họ quay lại với rơm.

– Bà có tin không? – nàng hỏi, không quay lại.

Bà Rạng không trả lời câu ấy. Bà chỉ nói:

– Mồng mười tháng Năm là hội đình. Cả bến kéo lên đình lễ Thành hoàng. Hương đình từ đời bố ông Lò đến giờ chỉ mua của nhà ông Lò.

Đình Vạn Sa dựng trên một gò đất cao nhìn ra sông, mái cong, cột lim to hai người ôm. Trước đình là cái sân lát gạch rộng, mùa hội dựng rạp hát chèo, mùa thường thì trẻ con chơi khăng. Gió sông ở đây thổi thốc vào, mạnh đến mức người ta phải chèn ngói bằng gạch.

Người lo hương đèn cho đình là cụ Chánh Bạ, bảy mươi lăm tuổi, râu bạc trắng, nói chậm và nghe kém. Khê Vân lên gặp cụ lúc cụ đang ngồi trên bậc đình phe phẩy cái quạt mo.

– Hương à? – cụ nói to, như mọi người nghe kém hay nói. – Hương đình xưa nay ông Lò lo. Cháu là con nhà ai?

– Cháu là cháu ông Mạnh làm hương ở xóm Đình, cụ ạ. Con cô Hoài.

Cụ Chánh dừng quạt.

– Ông Mạnh. Ông Mạnh thì tôi biết. Hồi tôi còn trai, hương đình là hương nhà ông Mạnh. Thơm cả cái gò này. Ông ấy mất rồi thì mới đến ông Lò.

– Cháu không xin cụ bỏ hương ông Lò, – Khê Vân nói. – Cháu chỉ xin một buổi thử. Cụ cho cháu và ông Lò, mỗi người cắm mười nén trên bát hương ngoài sân đình, chỗ gió to nhất, cùng một lúc. Hương nào cháy đều, không tắt, tàn không rơi xuống chiếu lễ, thì cụ dùng hương ấy cho hội. Còn nếu hương cháu tắt, thì cả bến này nói gì về cháu cũng đúng.

Cụ Chánh nhìn nàng thật lâu, rồi phẩy quạt một cái.

– Được. Mồng tám, giờ Thân, gió to nhất.

Ông Lò nghe tin thì cười. Ông đi khắp chợ mà cười, ai hỏi cũng bảo: con bé kinh thành ấy muốn thi hương với tôi, thi ở đình làng tôi, trước mặt Thành hoàng làng tôi. Để xem hương bất kính của nó cháy được bao lâu.

Khê Vân về chái, mở túi bạc ra đếm. Ba mươi hai lạng mang theo, trừ tiền trọ, tiền tre, tiền ngải, tiền thuê trẻ con nhặt cành, cộng cả tiền hương muỗi, giờ còn hai mươi tám. Hương thờ không thể làm bằng ngải với sả. Hương thờ phải có trầm.

Nàng xuống chợ bến tìm trầm. Cả chợ chỉ có một gian bán thuốc bắc có trầm, là trầm vụn đựng trong lọ sành, ông chủ nói là trầm Quỳ Lĩnh, ba lạng bạc một cân. Nàng cầm lên ngửi. Mùi trầm có, nhưng nhạt và lẫn mùi mốc. Nàng hỏi có loại khác không, ông chủ lắc đầu: trầm tốt thì người kinh thành mua hết từ trên nguồn, về tới đây chỉ còn vụn thế này thôi.

Nàng mua nửa cân. Một lạng rưỡi bạc, bằng cả tháng tiền lãi hương muỗi.

Ba ngày, nàng pha bột hương thờ. Trầm vụn tán mịn. Quế. Một chút hồi. Và vỏ bưởi.

Vỏ bưởi là ý của nàng, không có trong phương nào của mẹ. Cây bưởi đào ở nền nhà ông ngoại cho quả bé, vỏ dày, tinh dầu gắt. Phơi khô, tán mịn, cho vào một chút, thì hương có thêm một nốt sáng ở đầu, như mở cửa sổ ra buổi sớm. Nàng ngửi đi ngửi lại, bỏ ra rồi lại cho vào. Đến mẻ thứ ba thì giữ lại.

Bột bời lời là bột nàng tự giã, khô như cát. Tăm là tăm thằng Cò vót, chân vát xéo một nhát.

Chiều mồng tám tháng Năm, gió sông thổi rát mặt.

Sân đình đông hơn nàng tưởng. Người ta kéo đến xem như xem đánh vật. Dân ghe, dân chài, đàn bà xóm Cối còn nguyên bụi vàng trên khăn, trẻ con ngồi chồm hổm trên bờ tường. Bà Rạng đứng ở cuối sân, khoanh tay. Bà Sim chống gậy ra ngồi tít đầu hàng.

Hai bát hương đồng đặt cạnh nhau trên cái án gỗ giữa sân, phía dưới trải một tấm chiếu lễ mới tinh, màu đỏ. Cụ Chánh ngồi trên ghế tựa ngay cạnh, tay cầm quạt.

Ông Lò cắm mười nén trước. Hương ông dài một sải tay, que to, bột nâu sẫm. Ông châm cả bó một lúc, lửa bùng lên, ông lắc mạnh cho tắt rồi cắm phập vào bát. Khói bốc lên dày đặc.

Khê Vân cắm từng nén một. Châm từng nén một. Thổi nhẹ.

Gió quật ngang sân. Khói hương ông Lò bị thổi dạt hẳn sang một bên, đỏ rực đầu que. Hương cháy nhanh trong gió, tàn dài ra được nửa đốt thì gió giật một cái, rơi. Rồi lại rơi. Chỉ một lúc, tấm chiếu đỏ dưới bát hương ông Lò đã lấm tấm tàn xám, có chỗ cháy sém thành lỗ nhỏ bằng hạt đậu.

Hương của nàng cháy chậm hơn. Đầu hương đỏ âm ỉ, không bùng. Khói mảnh, gió thổi cũng dạt, nhưng gió qua rồi thì sợi khói lại đứng thẳng lên. Tàn mọc ra, màu bạc. Nửa đốt. Một đốt. Gió giật. Tàn rung lên. Không rơi.

Rồi tàn bắt đầu cong.

Cả sân đình im. Nàng nghe thấy tiếng ai đó hít vào. Mười cái tàn hương, cái nào cũng cong xuống như mười cái móc câu nhỏ treo trên đầu que, gió quật cũng chỉ đung đưa.

Mùi vỏ bưởi bay ra trước, sáng và sạch, rồi đến mùi trầm, chậm hơn, nằm dưới, như một tấm chăn.

Cụ Chánh Bạ đứng dậy khỏi ghế, đi tới bên án, cúi thật sát xuống bát hương của nàng. Cụ ngửi. Rồi cụ đứng thẳng lên, quay ra sân, nói to bằng cái giọng của người nghe kém:

– Mùi này. Đúng mùi hương nhà ông Mạnh ngày xưa. Thơm cả cái gò.

Không ai nói gì thêm về hương bất kính nữa.

Ông Lò đứng như trời trồng một lúc, rồi xách bó hương còn lại đi thẳng ra cổng. Cụ Chánh đặt ba trăm nén cho hội đình, trả trước một nửa. Đàn bà ghe muối xúm lại hỏi nàng còn hương đuổi muỗi không, họ mua.

Lúc người ta đã tản gần hết, nàng mới thấy có một người đàn ông đứng ở cuối sân, chỗ bóng cây đa.

Anh ta trạc hai mươi lăm, hai mươi sáu, da đen sạm như người quen nắng núi, vai đeo một cái gùi mây, búi tóc quấn khăn chàm. Trong tay anh ta là một nén hương thờ của nàng, nén cụ Chánh vừa rút khỏi bát cho người xem chuyền tay nhau ngửi, còn cháy dở. Anh ta đưa nó sát lên mũi. Rồi anh ta nhìn cái tàn, bẻ ra, xoa giữa hai đầu ngón tay.

Anh ta đi thẳng về phía nàng.

– Hương cô làm giỏi, – anh nói, giọng nặng, chữ cuối câu hơi nhấn lên như người ở trên nguồn. – Mà trầm cô mua thì dở. Trầm này là vụn loại ba, người ta trộn thêm mùn gỗ dó ủ mốc cho nặng cân. Ai bán cho cô, người ấy ăn của cô gấp đôi.

– Anh là ai?

Anh ta kéo cái gùi mây trên vai xuống, mở nắp. Một mùi thơm ngọt, đậm, sâu đến mức Khê Vân phải lùi lại nửa bước, bốc lên từ trong gùi, lấn hết mùi khói hương trên sân đình.

– Tôi bán trầm, – anh nói. – Nhưng tôi không bán cho người kinh thành.

— Hết chương 5 —

Mục lục Tàn hương cong móc câu

  1. 1Ba đầu hương gãy10 phút
  2. 2Tộc phả có một nét gạch10 phút đọc
  3. 3Bến Vạn Sa9 phút đọc
  4. 4Hương muỗi hai đồng một bó9 phút đọc
  5. 5Mười cái móc câu ở sân đình10 phút đọc
  6. 6Người bán trầm không bán cho kinh thành9 phút đọc
  7. 7Ba nghìn nén cho rằm tháng Bảy9 phút đọc
  8. 8Đôi khuyên ngọc bích11 phút đọc
  9. 9Giấy niêm trên cửa chái10 phút đọc
  10. 10Hai bát tro ở công đường10 phút đọc
  11. 11Phương hương thứ nhất của mình9 phút đọc
  12. 12Ba trăm lạng10 phút đọc
  13. 13Chợ Quỳ Lĩnh hết trầm9 phút đọc
  14. 14Bốn ống nứa bịt sáp9 phút đọc
  15. 15Chân hương cắt bằng9 phút đọc
  16. 16Vôi sống dưới đáy hộp9 phút đọc
  17. 17Sân bộ Lễ ngày hai mươi tháng Chạp9 phút đọc
  18. 18Đỉnh đồng niêm phong9 phút đọc
  19. 19Một dòng viết lại9 phút đọc
  20. 20Cong mà không rơi9 phút đọc

Về truyện này

Tàn hương cong móc câu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →