AI Truyện
Tàn hương cong móc câu

🏯 Cổ đại & cung đấu

Hương muỗi hai đồng một bó

Tàn hương cong móc câu · Chương 4/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Hương muỗi hai đồng một bó

Khê Vân nhìn nén bạc trên bàn một lúc lâu, lâu đến mức chè trong chén nguội hẳn.

– Bà cứ nhắn, – nàng nói.

Bà Rạng nhướng mày. Vú Nhót thì kêu lên như bị giẫm phải chân:

– Cô!

– Chú cháu đã biết cháu ở Vạn Sa, – Khê Vân nói. – Không nhắn qua bà thì chú cũng nhắn qua người khác, cháu lại không biết người ấy là ai. Bà cứ nhận bạc, cứ nhắn. Cháu chỉ xin bà một điều: tháng nào cháu làm gì, bà hỏi cháu, rồi nhắn đúng như thế. Đừng thêm, đừng bớt.

– Cô làm gì mà không sợ người ta biết?

– Tháng này cháu làm hương đuổi muỗi.

Bà Rạng nhìn nàng như nhìn một người dở hơi. Rồi bà bật cười, tiếng cười khàn và to, làm con chó vện dưới gầm sàn giật mình sủa.

– Hương đuổi muỗi. Được. Tôi nhắn đúng như thế. Ông áo nâu ấy nghe xong chắc cười vỡ bụng.

– Cháu mong chú ấy cười, – Khê Vân nói. – Cười càng lâu càng tốt.

Không có bột bời lời thì không có keo. Không có keo thì bột trầm, bột ngải, bột gì cũng chỉ là bụi, se vào que tre không bám, phơi khô là rơi.

Đêm ấy nàng hỏi thằng Cò: quanh Vạn Sa có cây bời lời không?

– Có, – nó nói ngay. – Trên đồi Ông Tượng, phía sau chùa. Cả rừng. Nhưng người xóm Cối thuê người lên bóc vỏ, ai lạ lên bóc là bị đuổi.

– Bóc vỏ cây đứng thì bị đuổi. Còn cành gãy dưới đất?

Thằng Cò nghĩ một lúc, rồi cười toe:

– Cành gãy thì của ai nhặt được.

Sáng hôm sau, hai chị em đeo gùi lên đồi Ông Tượng. Mùa này gió nồm thổi mạnh, đêm nào cũng có cành khô gãy. Họ nhặt những cành to bằng cổ tay, lấy dao rạch vỏ, bóc từng mảng dài. Vỏ bời lời mặt trong trơn và hơi nhớt, ngửi có mùi hăng nhẹ như lá chanh vò. Đến trưa, hai cái gùi đầy. Đến chiều, tay hai chị em đen nhẻm nhựa.

Phơi vỏ ba nắng. Rồi giã.

Cối giã tay thì mượn của bà Sim, bà cụ nhà bên có hàng rào dâm bụt. Cái cối đá xanh, lòng cối mòn nhẵn vì ba đời nhà bà giã gạo. Bà Sim cho mượn không lấy tiền, chỉ đòi Khê Vân kể chuyện mẹ nàng ở kinh thành, kể đi kể lại, đoạn nào hay thì kể thêm lần nữa.

Vú Nhót giã. Thằng Cò giã. Khê Vân giã. Ba người thay nhau suốt hai ngày được hơn hai cân bột. Ở xóm Cối, cái cối nước của lão Mão một buổi sáng giã được hai mươi cân.

Mẻ đầu tiên hỏng.

Nàng tiếc bột, pha ít keo quá. Hương se vào que, phơi một nắng đã nứt, phơi hai nắng thì bột bong ra từng khúc như vỏ cây khô. Vú Nhót nhặt từng mẩu, xót ruột như nhặt gạo đổ.

Mẻ thứ hai nàng tăng keo lên gấp rưỡi. Ngải cứu khô tán nhỏ, vỏ bưởi phơi khô tán nhỏ, sả khô, một ít bồ kết đốt thành than nghiền ra, bã cưa gỗ mít xin ở xưởng đóng ghe. Trộn với nước, nhồi như nhồi bột bánh, đến khi nắm lại thành khối, ấn ngón tay vào để nguyên vết.

Rồi đến tăm.

Que hương muỗi không cần đẹp như hương thờ, nhưng phải thẳng, phải đều, không thì cháy lệch. Nàng mua một bó tre ngâm ở chợ, chẻ ra, ngồi vót. Thằng Cò ngồi cạnh, nhìn nàng làm hai cây, rồi đòi làm thử.

Nó vót được thân tăm khá nhanh, tay nó quen chẻ lạt. Đến chân tăm, nó cứ thế cắt ngang một nhát.

– Không phải thế, – Khê Vân nói. Nàng cầm tay nó, đặt lưỡi dao nghiêng: – Vát xéo. Một nhát thôi. Chân nhọn như ngòi bút.

– Sao phải vát hả chị? Cắm vào chậu cát thì chân bằng cũng đứng.

– Nhà chị xưa nay vát thế, – nàng nói. – Ông thợ cả dạy chị bảo: một nhát, không được hai. Hai nhát là chân hương bị xơ, cắm vào tro không sâu.

Thằng Cò làm hỏng mười hai cây. Đến cây thứ mười ba, nó giơ lên, mắt sáng rỡ. Chân tăm vát gọn, mặt cắt nhẵn và bóng như mặt nước.

– Được chưa chị?

– Được, – nàng nói. Rồi nàng nghĩ tới bàn tay chai vàng của ông Đắc đặt lên tay nàng năm nàng chín tuổi, và quay mặt đi.

Bà Rạng là người đầu tiên đốt thử.

Bà không tin. Bà nói thẳng như thế, lúc Khê Vân mang ra ghe ba que hương muỗi màu nâu xanh, dài hơn một gang tay:

– Que tí tẹo thế này mà đuổi được muỗi bãi sậy à? Cô đùa.

– Bà cắm một que ở mũi ghe, một que ở giữa, một que ở lái. Đốt từ đầu hôm. Nếu sáng ra bà còn bị muỗi đốt quá ba nốt, cháu trả lại bà một tháng tiền trọ.

Bà Rạng nhìn nàng, rồi nhận ba que hương, nhét vào thắt lưng như nhét ba cọng lạt.

Sáng hôm sau, Khê Vân dậy sớm, ra hiên đã thấy bà Rạng ngồi chờ trên mạn ghe. Bà xắn tay áo, chìa hai cánh tay ra.

– Đếm đi.

Khê Vân đếm. Một nốt ở cổ tay trái, chỗ áo bà trễ xuống lúc ngủ.

– Một nốt, – nàng nói.

– Con Cò ngủ trên chiếc ghe kia, không đốt, sáng nay mặt nó sưng như cái bánh đúc, – bà Rạng nói. – Bán thế nào?

– Hai đồng một bó, bó mười que.

– Lấy hai mươi bó. Cho cả ba ghe.

Bà Rạng không phải người hay khen. Nhưng bà có một cái miệng, và cái miệng ấy ngày nào cũng đứng ở bến, cãi nhau với ít nhất mười người. Đến ngày thứ ba, đàn bà ghe muối đã tìm đến chái hỏi mua. Đến ngày thứ năm, dân chài bên lạch sậy. Đến cuối tháng Hai, ngày nào cũng có người đứng ở hiên từ sáng sớm, cầm sẵn hai đồng, có người cầm cả con cá thay tiền.

Khê Vân đếm tiền mỗi tối trên cái chiếu cói. Hai đồng một bó, trừ tiền tre, tiền ngải, tiền bồ kết, một bó lãi được gần một đồng. Một ngày bán bốn chục bó. Không bằng một góc tiền lãi một hộp hương Thái miếu. Nhưng là tiền của nàng.

Có một người khách nàng nhớ mãi. Chị ấy đến lúc trời nhá nhem, bế một đứa bé chừng bốn tháng, mặt đứa bé chi chít nốt đỏ như rắc hạt vừng. Chị là vợ một người kéo lưới ở lạch sậy, nhà ở ngay trên ghe. Chị không có tiền, chỉ có một xâu cá diếc còn quẫy.

– Cô cho tôi hai que thôi, – chị nói. – Cháu nó khóc cả đêm, nhà tôi không ngủ được, sáng ra còn đi lưới.

Khê Vân đưa chị một bó, không lấy cá. Chị kia nhất định không chịu, treo xâu cá lên cột hiên rồi bế con chạy mất. Ba hôm sau chị quay lại, dắt theo bốn người đàn bà ghe khác. Đứa bé trên tay chị đã hết sưng, đang ngủ, miệng còn chóp chép.

Đêm ấy vú Nhót kho cá diếc với dưa, cả chái thơm lừng. Ăn xong, Khê Vân lấy cái hộp gỗ nhỏ trong tay nải ra, mở nắp. Cái đĩa đồng của mẹ vẫn nằm đó, đoạn tàn cong vẫn nằm nguyên trên lớp tro, nàng không dám chạm vào. Nàng rút nén hương lưu trên búi tóc xuống, bọc vào một mảnh lụa, đặt cạnh cái đĩa, rồi đậy nắp lại. Gần một tháng nay, nàng ngủ với nó trên đầu. Từ đêm nay, nàng ngủ với cái hộp dưới gối.

– Cô vẫn nghĩ là dì Thoa gửi để chọc cô à? – vú Nhót hỏi.

– Con không biết, vú ạ, – nàng nói. – Con chỉ biết người gửi nó đã cầm bó lưu của con trong tay.

Vú Nhót im một lúc, rồi thổi tắt đèn.

Bột bời lời tự giã không đủ. Nàng thuê thêm hai đứa trẻ con xóm Đình lên đồi Ông Tượng nhặt cành, trả mỗi đứa ba đồng một gùi. Bà Sim thì không cho mượn cối nữa, mà bảo mang hẳn về chái mà giã, đổi lại mỗi tối phải kể thêm một chuyện.

Cuối tháng, bà Rạng hỏi nàng:

– Tháng này nhắn gì?

– Bà nhắn là cháu bán hương đuổi muỗi cho dân ghe, hai đồng một bó, mỗi ngày bốn chục bó. Ở chái của bà, ăn cơm với cá kho.

Bà Rạng nhìn nàng một lúc lâu.

– Cô biết người ta nghe xong sẽ nghĩ gì không?

– Biết, – Khê Vân nói. – Sẽ nghĩ con bé ấy hết đời rồi.

Tháng Ba trời nồm. Tháng Tư nắng gắt. Muỗi càng nhiều thì hương càng chạy. Nàng mua thêm một bó tre, thằng Cò vót tăm ngày càng nhanh, chân tăm vát đều tăm tắp. Vú Nhót khâu mấy cái túi vải nhỏ đựng hương, mỗi túi một bó, bên ngoài khâu một hình cây bưởi bằng chỉ xanh. Không có chữ, không có tên hiệu. Nàng không được dùng tên Phương Ký, mà nàng cũng chưa nghĩ ra tên khác.

Ông Lò bán hương cạnh đình bắt đầu nhìn nàng mỗi lần nàng đi ngang chợ. Có hôm ông đứng chống nạnh trước gian hàng, nói vọng ra, không to không nhỏ:

– Hương đốt cho muỗi. Ông bà ở dưới mộ mà biết thì độn thổ mất.

Khê Vân không quay lại. Câu này, cha nàng đã nói từ tám năm trước, nói hay hơn.

Một buổi chiều cuối tháng Tư, thằng Cò chạy về chái, thở hồng hộc, trên vai vác một cái bao gai nhỏ, dính bụi vàng.

– Chị ơi, bột bời lời! Bà Tư Sàng xóm Cối bán lén cho em. Năm cân, có mười hai đồng. Bà ấy bảo bột này người ta trả lại, lão Mão bắt đổ xuống lạch, bà ấy tiếc, giữ lại một bao.

– Người ta trả lại? Ai trả?

– Em không biết. Bà ấy bảo chị đừng nói ra.

Khê Vân mở miệng bao.

Mùi bột xông lên. Mùi vỏ cây hăng hăng thì có, nhưng mỏng. Bên dưới là một mùi khác, chua và nồng, như mùi nồi cơm nguội để qua đêm mùa nồm.

Nàng thọc tay vào bao, bốc lên một nắm. Bột không khô. Nó hơi dính tay, bóp lại thì vón thành cục, màu trắng hơn bột bời lời thường, lấm tấm những hạt nhỏ như hạt muối.

Tay nàng đột nhiên run lên.

Nàng đã ngửi thấy mùi này đúng một lần trong đời. Chiều mồng năm tháng Hai, trên tấm khăn điều ở bàn thờ họ Phương, từ ba mẩu hương gãy mà người của bộ Lễ mang về.

— Hết chương 4 —

Mục lục Tàn hương cong móc câu

  1. 1Ba đầu hương gãy10 phút
  2. 2Tộc phả có một nét gạch10 phút đọc
  3. 3Bến Vạn Sa9 phút đọc
  4. 4Hương muỗi hai đồng một bó9 phút đọc
  5. 5Mười cái móc câu ở sân đình10 phút đọc
  6. 6Người bán trầm không bán cho kinh thành9 phút đọc
  7. 7Ba nghìn nén cho rằm tháng Bảy9 phút đọc
  8. 8Đôi khuyên ngọc bích11 phút đọc
  9. 9Giấy niêm trên cửa chái10 phút đọc
  10. 10Hai bát tro ở công đường10 phút đọc
  11. 11Phương hương thứ nhất của mình9 phút đọc
  12. 12Ba trăm lạng10 phút đọc
  13. 13Chợ Quỳ Lĩnh hết trầm9 phút đọc
  14. 14Bốn ống nứa bịt sáp9 phút đọc
  15. 15Chân hương cắt bằng9 phút đọc
  16. 16Vôi sống dưới đáy hộp9 phút đọc
  17. 17Sân bộ Lễ ngày hai mươi tháng Chạp9 phút đọc
  18. 18Đỉnh đồng niêm phong9 phút đọc
  19. 19Một dòng viết lại9 phút đọc
  20. 20Cong mà không rơi9 phút đọc

Về truyện này

Tàn hương cong móc câu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →