Chương 11: Phương hương thứ nhất của mình
Mẻ thứ nhất có mùi như một cái chuồng trâu bị cháy.
Đinh Khoan ngửi một hơi rồi quay mặt đi, cố nhịn mà không nhịn được, ho sặc sụa. Thằng Cò bịt mũi chạy ra tận mũi ghe. Vú Nhót đứng ở cửa chái, tay cầm cái quạt nan, quạt khói ra ngoài lia lịa, miệng lẩm bẩm khấn vái ông bà.
Khê Vân ngồi yên trước bát tro, nhìn que hương đang cháy, cố ngửi cho bằng hết.
– Rễ hương bài nhiều quá, – nàng nói. – Gấp ba lần cần.
Đó là ngày hai mươi tám tháng Tám, ba hôm sau phiên xử.
Từ hôm ra khỏi công đường, nàng đã nghĩ đi nghĩ lại một điều. Không được làm thứ hương nào người ta ngửi lẫn được với Phương Ký. Thế nghĩa là không trầm với quế, không trầm với hồi, không đàn hương. Ba thứ ấy là xương sống của gần như mọi phương hương thờ mẹ nàng dạy. Bỏ ba thứ ấy đi, thì chỉ còn trầm. Mà trầm đứng một mình thì đơn, như người hát không có đàn.
Nàng cần những thứ mà họ Phương ở kinh thành không có. Những thứ chỉ Vạn Sa mới có.
Vỏ bưởi đào ở nền nhà ông ngoại là thứ thứ nhất. Thứ thứ hai là rễ cỏ hương bài. Bãi bồi dưới chân đồi Ông Tượng mọc cả một vạt, dân Vạn Sa nhổ về phơi khô để giặt áo, cho áo thơm, hoặc bó thành nắm treo trong rương chống mọt. Rễ hương bài đốt lên có mùi đất, mùi rơm khô, mùi mưa đầu mùa trên ruộng cạn. Mùi ấy nằm ở dưới, rất sâu, và rất lâu.
Thứ thứ ba thì nàng chưa biết.
Mẻ thứ hai ít hương bài hơn, lại thành ra nhạt nhẽo. Mẻ thứ ba nhiều vỏ bưởi hơn, cháy lên thơm gắt được một lúc thì hắc, như ai vắt chanh vào mắt. Mẻ thứ tư thì trầm bị lấn mất, chẳng ra mùi gì. Mẻ thứ năm tàn rơi, vì nàng thêm hương bài mà quên tính hương bài hút keo, keo không đủ.
Đến mẻ thứ chín, Đinh Khoan đứng xem nàng cân bột, rồi nói:
– Cô tán trầm mịn quá.
Nàng ngẩng lên.
– Trầm hương thờ thì phải mịn. Mịn mới đều.
– Hương thờ nhà cô ở kinh thành dùng trầm gì?
– Trầm phương Nam, loại khô, dầu đều. Mẹ tôi mua ở nhà buôn trên phố.
– Trầm Quỳ Lĩnh không giống trầm phương Nam, – Khoan nói. Anh nhặt một mẩu trầm trong hũ, bẻ đôi, đưa cho nàng xem mặt gãy. – Trầm làng tôi dầu không đều. Có chỗ dầu đặc như mật, có chỗ chỉ là gỗ. Tán mịn quá thì chỗ dầu với chỗ gỗ trộn lẫn hết, ra một thứ mùi đều đều. Tán thô một chút, thì khi cháy, gặp hạt nhiều dầu nó thơm một nhịp, gặp hạt ít dầu nó lắng xuống một nhịp. Như người ta thở.
Nàng nhìn mặt gãy của mẩu trầm, những vân đen đậm nhạt xen nhau như vằn trên lưng hổ.
– Anh học ở đâu cái ấy?
– Ở bếp nhà tôi, – Khoan nói. – Mẹ tôi đốt trầm vụn sưởi nhà mùa rét. Đốt vụn thô thì cả đêm cứ thơm lúc đậm lúc nhạt, tôi nằm đếm từng nhịp đến lúc ngủ quên.
Mẻ thứ mười, nàng tán trầm thô hơn, qua cái rây mắt to. Mẻ thứ mười một, nàng hạ vỏ bưởi xuống một nửa. Mẻ thứ mười hai, nàng thêm vào một ít lá bưởi khô, chỉ một nhúm, để mùi bưởi đi qua lá cho mềm, không qua vỏ cho gắt.
Đến mẻ thứ mười ba, giữa tháng Chín, thì mưa.
Mưa tháng Chín ở Vạn Sa không như mưa kinh thành. Nó không rơi, nó đổ. Ba ngày ba đêm, sông Lãng lên to, nước đỏ quạch cuồn cuộn kéo theo cả cây chuối, cả con lợn chết. Giàn phơi ngập. Hương ướt mốc. Cả chái ẩm như cái chum ủ tương.
Vú Nhót ốm vào ngày mưa thứ hai.
Vú lên cơn sốt rét, run cầm cập dưới ba cái chăn, môi tím ngắt, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Khê Vân bỏ hết đấy, ngồi bên vú suốt hai ngày hai đêm. Nàng nấu cháo giải cảm với tía tô, đắp khăn ướt lên trán vú, đêm nằm ngay cạnh để nghe hơi thở. Đinh Khoan lội nước ra chợ, mua về mấy thang thuốc của ông lang ở xóm Đình. Bà Rạng mang lên một con gà mái già, cắt tiết ngay ở hiên, bảo nấu cháo cho vú lại sức.
Đêm thứ hai, vú Nhót tỉnh dậy, mắt vẫn đỏ, nhìn Khê Vân đang ngồi gà gật bên đèn.
– Cô đừng có thức nữa, – vú thều thào. – Vú chưa chết đâu. Vú còn phải xem cô về lại cái nhà ấy.
– Con không về lại cái nhà ấy đâu, vú.
– Về chứ, – vú nói. – Cô không về thì ai về. Bà cả nằm dưới đất có nhắm mắt được không.
Khê Vân không cãi. Nàng chỉ nắm lấy bàn tay khô quắt của vú, xoa cho ấm.
Một lúc lâu, vú Nhót lại nói, mắt đã nhắm:
– Bà cả ngày xưa pha hương, có lúc cũng hỏng hai chục mẻ. Bà bảo vú: hương cũng như con, không ai đẻ ra nó được ngay. Phải để nó tự lớn.
Rồi vú ngủ.
Mưa tạnh vào sáng hôm sau. Trời trong như được rửa, nước sông vẫn đỏ, nhưng nắng đã lên vàng ruộm trên mặt nước. Vú Nhót đã ngồi dậy ăn được bát cháo gà.
Khê Vân ra hiên, lấy mẻ hương thứ mười ba từ trong hũ vôi ra, mẻ nàng đã hong khô bên bếp suốt ba ngày mưa. Nàng chọn một que, cắm vào cái đĩa đồng của mẹ, bên cạnh đoạn tàn cong cũ, châm lửa.
Khói bay lên mảnh, thẳng.
Mùi đầu tiên là mùi lá bưởi, mềm như buổi sớm, không còn chua, không còn gắt. Rồi trầm đến, đậm một nhịp, nhạt một nhịp, như hơi thở của ai đang ngủ. Và rất sâu dưới đó, rễ hương bài, mùi đất khô sau mưa, mùi bãi bồi lúc nước rút, mùi của chính cái bến này.
Nàng ngồi xổm, cằm tì lên đầu gối, nhìn. Tàn mọc ra, màu tro bạc. Nửa đốt. Một đốt. Cong dần.
Không rơi.
Thằng Cò ngồi cạnh từ lúc nào, hít hít cái mũi.
– Chị ơi, – nó nói. – Cái này thơm như cái bến mình sau mưa.
Khê Vân bật cười. Lần đầu tiên từ tháng Hai, nàng cười thành tiếng.
Đinh Khoan bước ra từ trong chái, đứng sau lưng hai chị em, cũng không nói gì. Rồi anh ngồi xuống, cách nàng một sải tay, nhìn cái tàn cong trong đĩa đồng.
– Cô đặt tên cho nó chưa?
Nàng nghĩ một lúc.
Ngày xưa mẹ nàng đặt tên cho mọi phương hương bà làm ra. Tịnh Đàn, Thanh Trầm, Mộc Hương, Thu Lan. Tên nào cũng đẹp, tên nào cũng là tên của họ Phương. Nàng không còn là người họ Phương. Phương của nàng, cũng không còn là phương của họ.
Chỉ còn một cái tên là của riêng nàng, mẹ nàng đặt cho nàng, không ai gạch đi được.
– Khê Vân, – nàng nói. – Hương này tên là Khê Vân.
Khoan gật đầu, như thế là đúng.
– Còn tên hiệu?
– Vạn Sa.
Hai mươi tháng Chín, Khoan khoác gùi ngược sông Thâm về Quỳ Lĩnh. Trước khi đi, anh đứng ở đầu ván cầu ghe, nói:
– Đầu tháng Mười Một tôi về. Mang theo trầm tốt nhất làng Khe Chè. Cô cần bao nhiêu?
– Mười cân.
Anh nhíu mày.
– Mười cân loại một thì cả làng tôi đi rừng ba tháng. Năm nay trầm ít.
– Thế thì bao nhiêu được bấy nhiêu.
Anh gật đầu, rồi bước xuống ghe, không chào, như người núi. Ghe ra giữa dòng rồi, anh mới quay đầu lại, giơ một tay lên, đứng yên như thế cho đến khi ghe khuất sau bãi sậy.
Bà Rạng đứng cạnh nàng, khoanh tay, nhìn theo.
– Thằng ấy được, – bà nói. – Không nói nhiều.
Khê Vân không trả lời. Nhưng nàng đứng ở hiên lâu hơn cần thiết.
Hôm sau, nàng mang một bó hương Khê Vân lên đình biếu cụ Chánh Bạ. Cụ vẫn ngồi trên bậc đình, quạt mo phe phẩy, như chưa hề rời chỗ ấy từ tháng Năm.
Nàng không nói gì về phương mới, chỉ cắm một nén vào bát hương trên bậc đá, châm lửa, rồi ngồi chờ. Cụ Chánh cúi xuống ngửi. Ngửi lâu. Rồi cụ ngẩng lên, nhìn nàng bằng đôi mắt đục mờ.
– Cái này không phải mùi nhà ông Mạnh, – cụ nói to.
– Dạ, không phải.
– Cũng không phải mùi kinh thành.
– Dạ.
Cụ ngửi thêm lần nữa, rồi gật gù, quạt mo phẩy một cái.
– Cái này là mùi của cháu, – cụ nói. – Mùi bãi bồi nhà mình. Năm nào nước rút tôi cũng ngửi thấy nó.
Nàng xuống gò đình, chân bước nhẹ như không chạm đất.
Hai ngày sau, cái yết thị của bộ Lễ về đến châu Vạn Sa.
Thằng Cò đi chợ về, chạy một mạch lên chái, kể là trên tường cổng nha môn có dán một tờ giấy đỏ to bằng cái chiếu, có dấu son, cả chợ đứng xem mà không ai đọc được. Khê Vân đi lên ngay.
Tờ yết thị viết chữ chân phương, nét đậm. Nàng đứng đọc, giữa đám người chen chúc và một ông đồ đang cao giọng đọc to cho mọi người nghe, mỗi câu dừng lại giải thích một lượt.
Năm Mậu Thìn, bộ Lễ chọn hiệu hương tiến Thái miếu. Ngày hai mươi tháng Chạp năm Đinh Mão, thử hương tại sân bộ Lễ. Hiệu nào trong cả nước làm hương thờ đều được dự, không kể ở kinh hay ở các trấn. Hương dự thi phải nộp mười hộp, mỗi hộp hai mươi nén, trước ngày mười lăm tháng Chạp, cất giữ trong kho bộ Lễ đến ngày thử.
Rồi đến đoạn nàng sợ nhất.
Hiệu dự thi phải ghi danh tại bộ Lễ trước rằm tháng Mười. Hiệu ở ngoài kinh phải có một hiệu trong hội hương kinh thành đứng tên bảo lĩnh, hoặc tự nộp bạc bảo lĩnh ba trăm lạng. Hương dự thi nếu tắt, nếu có điều bất kính, bạc bảo lĩnh sung công.
Ba trăm lạng.
Nàng có sáu mươi mốt lạng, tính cả tiền ba nghìn nén chùa Vân Thê sau khi trả công, trả trầm, trả bột.
Ông đồ đọc đến dòng cuối cùng thì dừng lại, nheo mắt, đọc chậm từng chữ:
– Hội hương kinh thành do hội trưởng là ông Kiều Bá Hành, chủ hiệu Kiều Thịnh, phố Đông Thuận, đứng giữ sổ.
— Hết chương 11 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe