Chương 6: Người bán trầm không bán cho kinh thành
– Tôi bị kinh thành đuổi ra rồi, – Khê Vân nói.
Người đàn ông bán trầm nhìn nàng, như để xem nàng nói đùa hay nói thật. Rồi anh ta cười, lần đầu tiên, một cái cười ngắn và lệch, chỉ nhếch một bên mép.
– Thế thì cô ngồi xuống đây.
Anh tên là Đinh Khoan, người làng Khe Chè, sâu trong núi Quỳ Lĩnh, ngược sông Thâm bốn ngày thuyền. Làng anh đời đời đi rừng tìm trầm. Mỗi năm anh xuôi về Vạn Sa hai lần, mang trầm xuống bán cho mấy nhà thuốc, mấy nhà làm hương quanh bến, rồi mua muối, mua vải, mua lưỡi cày mang ngược lên.
– Ngày trước làng tôi bán cho lái kinh thành, – anh nói. Hai người ngồi trên bậc đình, cái gùi mây đặt giữa. – Lái kinh trả giá cao, làng tôi mừng. Năm đầu họ trả đủ. Năm thứ hai họ trả một nửa, hẹn năm sau trả nốt. Năm thứ ba họ mang cân của họ lên, cân một cân trầm của làng tôi chỉ còn tám lạng. Ai cãi thì họ bảo: thế thì bán cho ai? Đến năm thứ tư thì họ không lên nữa. Cả làng còn ôm nợ chưa đòi được. Cha tôi mất mà cái nợ ấy vẫn ghi trên vách nhà.
– Lái ấy của hiệu nào?
– Tôi không biết tên hiệu. Chỉ biết người cầm cân xưng là quản sự, mặc áo lụa, đeo cái túi thêu chữ Kiều.
Khê Vân không nói gì. Kiều Thịnh là hiệu hương lớn thứ hai trong kinh thành, chỉ đứng sau Phương Ký. Ông chủ Kiều Bá Hành tháng Chạp vừa rồi còn sai người mang lễ đến phủ họ Phương, ngỏ ý xin nàng về làm dâu.
Đinh Khoan mở gùi, lấy ra ba mẩu trầm, đặt lên bậc đá. Ba mẩu to cỡ ngón tay cái, mẩu nào cũng màu nâu sẫm, vân đen chạy dọc, nhìn qua giống hệt nhau.
– Cô làm hương, cô biết trầm. Mẩu nào thật, mẩu nào giả?
Nàng cầm từng mẩu lên. Cân trong lòng bàn tay. Ngửi. Mẩu thứ nhất thơm ngọt, đằm. Mẩu thứ hai thơm gắt hơn, thơm quá mức, như người xức nước hoa đứng quá gần. Mẩu thứ ba nhẹ tay hơn hai mẩu kia.
Nàng mượn con dao nhỏ bên hông anh, cạo từ mỗi mẩu một sợi mỏng như sợi tóc, đặt lên mặt bậc đá, châm lửa từng sợi.
Sợi thứ nhất cháy chậm, khói trắng xanh, mùi trầm lan ra mềm như sữa ấm, sợi dầu trong gỗ sôi lên lăn tăn. Sợi thứ hai cháy bùng, khói đen, mùi thơm gắt chỉ được một lúc rồi chuyển sang khét, như dầu đèn cháy cạn bấc, để lại trên đá một vệt đen bóng nhờn. Sợi thứ ba cháy nhanh, mùi nhạt, tàn trắng.
– Mẩu đầu là thật, – nàng nói. – Mẩu hai là gỗ dó non tẩm dầu, ngâm cho đen, ngâm cho thơm, cân lên còn nặng tay. Mẩu ba là trầm thật nhưng loại kém, gỗ chưa đủ năm.
Khoan nhìn vệt dầu đen trên bậc đá, rồi nhìn nàng.
– Năm ngoái có một lái kinh thành mua một thuyền trầm tẩm của bọn buôn phương Nam, ba nghìn lạng bạc, – anh nói. – Tôi thấy họ chuyển hàng ở bến này. Tôi bảo người cầm cân: trầm của ông là trầm tẩm. Hắn bảo tôi là thằng rừng rú thì biết gì mà nói. Đến lúc về kinh đốt thử thì mới biết.
– Ông ấy là ai?
– Người nhà một hiệu lớn. Tôi nghe người ta gọi là ông Hai Phương.
Khê Vân ngồi im.
Chú hai. Mùa hè năm Bính Dần, chú đi phương Nam hai tháng, về nói là mua được một lô trầm rẻ. Rồi lô trầm ấy không thấy đâu nữa, không ai trong nhà nhắc. Cha nàng hỏi một lần, chú bảo bán lại cho người ta rồi, có lãi. Nàng nhớ cái hôm ấy, vì đó là lần duy nhất nàng thấy chú hai không nhìn thẳng vào mắt cha.
Ba nghìn lạng bạc. Phương Ký cả năm lãi không được một nghìn. Nàng nhớ Tết năm ấy, xưởng Gò Sậy bị cắt mất một phần ba tiền thưởng của thợ, chú hai bảo vì giá trầm lên. Thợ già lẩm bẩm cả tháng Giêng. Không ai nghĩ đến chuyện hỏi giá trầm lên ở chỗ nào.
– Cô sao thế? – Khoan hỏi.
– Không sao, – nàng nói. – Anh bán cho tôi một cân trầm thật. Tôi trả tiền mặt, trả đủ, cân bằng cân của anh.
Khoan bán. Năm lạng bạc một cân, loại hai, rẻ hơn kinh thành gần một nửa. Anh còn dặn: trầm phải cất trong hũ sành, đừng để chung với long não, đừng để chỗ nắng, kẻo dầu trong gỗ bay mất. Anh hẹn tháng Chín xuôi về sẽ mang thêm, rồi khoác gùi đi, không chào, như người núi chẳng mấy khi chào.
Khê Vân nhìn theo cái lưng anh khuất sau gốc đa, rồi quay về chái. Trong đầu nàng có hai thứ cứ xoay mãi như hai cái guồng nước: cái bao bột chua dưới gầm giường, và ba nghìn lạng bạc.
Hương hội đình làm xong ngày mồng chín. Ba trăm nén, đủ cho ba ngày hội. Những ngày hội, nàng không lên đình. Nàng ngồi ở chái, nghe tiếng trống chèo vọng xuống bến, và mùi hương nhà mình bay theo gió sông về tận hiên, lẫn trong mùi khói pháo.
Tối thứ hai của hội, bà Rạng từ đình về, tay cầm hai cái bánh giầy gói lá chuối, ném một cái vào lòng nàng.
– Cụ Chánh gửi. Cụ hỏi sao cô không lên.
– Cháu sợ người ta lại nhìn, – nàng nói.
Bà Rạng ngồi xuống bậc hiên, bóc bánh, ăn một miếng to. Một lúc lâu bà mới nói, mắt nhìn xuống ba chiếc ghe dưới bến:
– Sáu năm trước, chồng tôi nhận chở cho một lái kinh thành một chuyến gạch men xuống cửa biển. Lái ấy trả rẻ, lại bắt chở gấp, chở quá mạn hai gang tay. Chồng tôi bảo không được, sông mùa này nước xiết. Lái ấy bảo: không chở thì có người khác chở. Nhà tôi đang nợ tiền đóng ghe. Ông ấy chở. Ghe lật ở ghềnh Đá Mài, cách đây nửa ngày xuôi. Lái kinh thành mất một ghe gạch, kiện đòi tôi đền. Tôi thì mất chồng.
Khê Vân không biết nói gì. Nàng cầm cái bánh giầy trong tay, bánh còn ấm.
– Từ đấy tôi không chở cho người kinh, không cho người kinh thuê nhà, – bà Rạng nói. – Cho cô thuê là vì cô biết se sợi. Chồng tôi cũng hay bảo tôi nhúng sợi vào nước rồi hẵng buộc. Tôi chẳng bao giờ nghe.
Bà ăn hết cái bánh, phủi tay, đứng dậy, đi xuống ghe, không nói thêm câu nào.
Đêm cuối hội, nàng nhờ thằng Cò.
– Em đi gọi bà Tư Sàng giúp chị. Đừng gọi ở nhà. Bảo bà ra bờ lạch, chỗ cây sung, lúc trăng lên.
Bà Tư Sàng ra muộn. Bà gầy và thấp, khăn trùm đầu vẫn còn bụi vàng, hai mắt đỏ vì ngày nào cũng ngồi sàng bột. Bà đứng nép sau gốc sung, cứ nhìn trước nhìn sau.
– Cô đừng hỏi tôi, – bà nói ngay. – Tôi bán cho thằng Cò cái bao ấy vì tiếc của. Tôi không biết gì đâu.
– Cháu không nói với ai cháu gặp bà, – Khê Vân nói. – Cháu chỉ hỏi bà một điều: bột ấy làm khi nào?
Bà Tư Sàng nhìn nàng rất lâu. Ánh trăng lọt qua lá sung, chiếu lên mặt bà từng mảng.
– Cuối tháng Giêng, – bà nói, rất khẽ. – Lão Mão đóng cửa cối hai đêm. Chỉ có lão với thằng con cả làm. Mùi chua bay ra cả xóm, chúng tôi tưởng nhà lão ủ mẻ. Lão làm ba bao. Có một người ở kinh xuống lấy hai bao, đi thuyền đêm. Bao thứ ba người ta không lấy, bảo thừa. Lão Mão cất trong kho. Đến lúc cô về Vạn Sa thì lão bảo tôi mang đổ xuống lạch. Tôi tiếc, giữ lại.
– Người ở kinh xuống ấy là ai?
– Tôi không thấy mặt. Chỉ lão Mão biết.
Bà Tư Sàng quay đi được mấy bước, rồi quay lại.
– Cô ơi, – bà nói. – Nhà tôi sống nhờ cái cối ấy. Lão Mão mà biết tôi đứng đây với cô, chồng con tôi đói.
– Cháu biết, – Khê Vân nói. – Cháu hứa.
Bà Tư Sàng đi rồi, nàng còn đứng dưới gốc sung rất lâu.
Cuối tháng Giêng làm bột. Mồng năm tháng Hai hương tắt ở Thái miếu. Mười ngày. Đủ để se hương, phơi, đóng hộp.
Nhưng hương Thái miếu làm từ tháng Chạp. Nàng tự tay pha bột từ tháng Chạp. Ba mươi hộp niêm sáp từ hai mươi tháng Chạp. Bột chua làm cuối tháng Giêng thì không thể nằm trong mẻ của nàng.
Trừ phi đấy không phải mẻ của nàng.
Trừ phi có người đã làm một mẻ hương khác, bằng bột khác, trong mười ngày, rồi đặt vào ba mươi cái hộp của nàng.
Nàng thấy da gáy mình gai lên như có gió lạnh thổi qua, dù đêm tháng Năm ở bến Vạn Sa nóng như nồi hấp.
Khuya hôm ấy, thằng Cò lay nàng dậy.
– Chị ơi. Có thuyền khoái vào xóm Cối.
Hai chị em đi theo bờ lạch, không cầm đèn. Trăng đã ngả về tây, nước lạch đen như mực. Ở bến nhỏ đầu xóm Cối có một chiếc thuyền khoái mui đen, loại thuyền nhẹ chạy nhanh, hai người chèo ngồi chờ trên lái. Cửa nhà lão Mão mở hé, ánh đèn dầu hắt ra vàng vọt.
Hai chị em nấp sau đống vỏ bời lời phơi dở. Mùi vỏ cây hăng nồng xông lên mũi.
Một lúc lâu, cửa nhà lão Mão mở rộng. Lão Mão bước ra trước, khom khom lưng, tay cầm đèn. Theo sau là một người đàn ông mặc áo dài lụa nâu, đội khăn xếp, dáng người cao, bước chân hơi lệch, như người bị đau gối trái.
Người ấy đứng trên bậc cửa, quay lại nói gì đó với lão Mão. Ánh đèn trong tay lão Mão rọi đúng vào mặt người ấy, một khuôn mặt dài, gò má cao, một vết bớt màu nâu nhạt to bằng đồng xu dưới mắt phải.
Khê Vân biết khuôn mặt ấy. Nàng đã thấy nó suốt hai mươi năm, mỗi sáng, ở cửa xưởng Gò Sậy, mỗi chiều, ở cổng phủ họ Phương.
Tạ Lũy. Quản sự của chú hai.
— Hết chương 6 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe