Chương 1: Nước trong là nước đói
Cái nền nhà sụp xuống sông vào lúc gà gáy canh tư, kéo theo nửa cái chạn chén, bao lúa giống và con mèo mướp không kịp nhảy.
Ngạn nghe tiếng đất rạn trước khi nghe tiếng nước. Nó nằm trên bộ ván sát vách sau, cái vách quay ra sông, và trong giấc ngủ nó tưởng có ai đang bẻ một bó củi khô dưới gầm nhà. Rồi bộ ván nghiêng. Rồi cái lu nước đầu hè lăn đi, đập vào cột cái nghe bộp một tiếng.
– Ngạn! Bồng con Mận ra! Ra lẹ!
Tiếng cha nó, khàn và gấp. Ngạn lăn khỏi ván, mò trong tối chụp được cái chân nhỏ của em gái. Con Mận tám tuổi, ngủ say như cục đá, bị lôi đi vẫn lầm bầm đòi ăn bánh ít. Nó vác em lên vai chạy ra cửa trước, chân giẫm phải nước. Nước đã vô tới giữa nhà.
Ra tới sân, nó quay lại. Dưới ánh trăng hạ tuần mỏng như vỏ trấu, cái nhà lá của nhà nó đang quỳ xuống. Nửa sau nhà chìm vào bóng tối dưới mép bờ, nửa trước còn chổng lên, cột cái nghiêng như một người say. Mẹ nó đứng ở bậc cửa, tay ôm cái hũ sành đen bóng, cái hũ để trên bàn thờ, miệng kêu cha nó bằng một tiếng không thành chữ.
Cha nó còn ở trong. Ông đang cố lôi cái bao lúa giống. Ngạn thấy cái bóng ông khom xuống, thấy cây đòn tay trên mái rời mộng, thấy nó rơi.
Sau này Ngạn nhớ nhất không phải tiếng ông la, mà là cái tiếng sông nuốt nửa căn nhà. Không ầm ào gì hết. Chỉ là một tiếng ực, sâu và dài, như con trâu uống nước sau một ngày cày.
Người ta kéo được cha nó ra lúc trời hửng. Cả xóm Doi Lở ra hết, ông Hai Lù trưởng xóm la tới khản giọng. Cây đòn tay đè ngang cẳng chân trái của ông Vạc. Lúc tám người nhấc nó lên, cái chân nằm dưới đó cong ra một kiểu không phải chân người. Ông Vạc không la. Ông cắn chặt cái khăn rằn, mồ hôi chảy ròng ròng xuống cổ, mắt ông không nhìn cái chân mà nhìn ra sông.
Bà Bưởi ngồi bệt dưới đất, vẫn ôm cái hũ sành.
– Lúa giống trôi rồi, – ông Vạc nói, khi người ta đặt ông xuống chiếc chõng tre nhà ông Hai Lù. – Ba giạ lúa giống, trôi sạch.
– Cái giò ông gãy mà ông còn lo lúa, – ông Hai Lù gắt.
– Giò gãy thì nằm. Lúa trôi thì đói.
Thầy thuốc ở chợ Vàm Sậy xuống bó chân, bảo ba tháng nữa mới đi lại được, mà có đi được cũng không còn lội bùn như xưa. Ông lấy hai quan tiền thuốc. Bà Bưởi đưa xong thì đứng lặng nhìn cái túi vải trống trơn trong tay.
Ngạn ra bờ sông.
Doi Lở là một doi cát nằm ngay khúc quanh sông Phù, nơi dòng nước từ phía bắc đập thẳng vào rồi mới chịu ngoặt đi. Hồi ông nội Ngạn còn trẻ, cái doi dài hơn bây giờ gần trăm sải. Năm nào nước lên, sông cũng mang về một lớp đất đỏ như cám, phủ lên ruộng dày bằng lóng tay, và năm đó lúa trổ nặng tới nỗi bông cúi sát mặt nước.
Ngạn mười lăm tuổi, chưa thấy lớp đất đỏ đó lần nào. Trong đời nó, nước sông Phù chỉ có một màu xanh trong, chỗ cạn thấy được cả mấy con cá lòng tong lượn giữa rong. Người chợ Vàm Sậy khen nước sạch. Người Doi Lở không khen.
Nó đứng ở chỗ cái nền nhà cũ. Mép bờ giờ dựng đứng, cao hơn đầu nó, đất cát lở ra từng lớp như bánh da lợn. Dưới chân bờ, nước xoáy thành những cái vòng chậm rãi, trong vắt. Nó thấy cái chạn chén của nhà nó mắc ở một gốc bần chết cách đó mười sải. Không thấy con mèo.
– Nước trong là nước đói.
Ngạn quay lại. Cha nó đã bắt người khiêng ông ra đây, chiếc chõng tre đặt dưới gốc me, cái chân bó tre gác lên một cái gối rơm. Mặt ông xám như tro bếp nhưng mắt ông vẫn nhìn sông như nhìn một con thú.
– Cha nằm trong đi cha.
– Mày biết sao sông ăn đất không? – Ông Vạc không trả lời con, hỏi lại. – Nước chở đất. Từ trên nguồn xuống, nó chở theo đất đỏ, chở mỏi thì nó thả xuống, thả chỗ này thành doi, thả chỗ kia thành bãi. Nước có chở thì nước no. Nước no thì nó hiền. Còn cái thứ nước trong veo này, – ông hất cằm ra sông, – là nước đói. Nó không có gì trong bụng hết. Nó đi tới đâu là nó gặm tới đó. Nó gặm cái bờ mình để có cái mà chở.
Ngạn đã nghe cha nói câu này nhiều lần. Ông Vạc ba mươi năm đào kinh đắp bờ thuê khắp vùng Hạ Phù, cái gì dính tới nước ông nói như đọc kinh. Nhưng lần này cái nước đói ấy vừa ăn mất cái giường nó ngủ.
– Vậy sao hồi xưa nước no, giờ nước đói? – nó hỏi.
Ông Vạc im một lúc lâu.
– Ông nội mày nói hồi ông còn trai trẻ, trên nguồn người ta đắp một cái đập. To lắm. To như núi. Từ đó nước xuống là nước trong.
– Cái đập của ai?
– Của mấy ông tiên trên đó. – Ông Vạc nói chữ "ông tiên" bằng cái giọng người ta nói về trời mưa: không thương mà cũng không ghét, vì có ghét thì cũng chẳng làm gì được. – Chuyện của người ta, không phải chuyện mình.
Chiều hôm đó, nhà Ngạn dọn sang ở nhờ cái chái bếp nhà ông Hai Lù. Mẹ nó đặt cái hũ sành lên một cái ghế đẩu thay bàn thờ, cắm một nén nhang. Con Mận hỏi hoài con mèo đâu. Không ai trả lời nó.
Ngạn ngồi ngoài hiên, nghe ông Hai Lù nói chuyện với mấy ông già trong xóm.
– Năm nay ăn vô mười tám sải. Ba năm nữa cái doi này còn bằng cái sân đình.
– Dời lên trên đê thì làm mướn cho ai? Ruộng trên kia cũng có còn ra hột lúa nào đâu. Đất không có phù sa, cấy ba năm là bạc như tro.
Ông Năm Chuột gõ cái điếu cày xuống bậc thềm.
– Tui nghe trên Nhạn Hồi sắp mở cửa nhận người. Ba năm một lần, đứa nào mười hai tới mười sáu tuổi lên thử được hết. Rớt thì người ta cũng cho tiền đò về.
– Tiên tông thì nhận con nhà mình làm gì.
– Có người nhận đó. Thằng con nhà Tư Dừa hồi đó lên, giờ người ta nói nó bay được rồi.
Ngạn ngồi im. Chữ "bay" với nó không có nghĩa gì nhiều. Nhưng ai ở Hạ Phù cũng biết mấy ông tiên trên núi Nhạn Hồi có phép đắp bờ. Năm năm trước, người ta đồn có một vị tiên sư đi ngang xã Bình Gò, thấy đê bể, phất tay một cái là đất tự chạy lên lấp chỗ vỡ.
Nó nhìn ra sông. Nước vẫn trong.
Tối đó, nó nói với cha.
Ông Vạc nằm nghe hết, không ngắt lời. Bà Bưởi đang thổi lửa, ngưng tay, cái ống thổi bằng tre còn kề ở miệng.
– Mày lên đó làm gì?
– Con học phép đắp bờ. Học được thì con về đắp cho cái doi.
– Mày tưởng người ta dạy mày à?
– Không dạy thì con về.
– Đi chín ngày ghe ngược nước. Tiền đâu?
Ngạn không trả lời được. Nhà nó còn đúng một thứ đáng tiền: con trâu cái già cột ở gốc gòn bên nhà ông Hai Lù.
Ông Vạc nhìn trần chái bếp rất lâu.
– Bán trâu, – ông nói. – Một nửa giữ lại mua lúa giống. Một nửa cho nó đi.
– Ông! – Bà Bưởi đứng bật dậy.
– Cái chân tui vầy rồi. Ba tháng nữa đi được thì cũng chống gậy. Cái doi ba năm nữa còn bằng cái sân. Để nó ở đây làm gì? Ngồi coi sông ăn hết hả bà?
Bà Bưởi không nói nữa. Bà quay vô, lại thổi lửa, thổi mạnh tới nỗi tro bay lên đầy mặt.
Ba ngày sau, con trâu được bán cho một ông lái ở chợ Vàm Sậy, giá mười một quan rưỡi. Lúc người ta dắt nó đi, nó ngoái lại kêu một tiếng ngắn. Con Mận khóc. Ngạn ra bờ sông đứng cho tới khi không còn nghe tiếng chuông cổ trâu.
Đêm trước ngày đi, mẹ nó ngồi trước cái hũ sành.
Ngạn biết cái hũ đó từ khi nó biết nhớ. Ông nội để lại. Ông nói trong đó là đất phù sa năm Thìn, năm lũ cuối cùng còn mang đất đỏ về, năm ông mới mười mấy tuổi. Ông múc một hũ để dành, mỗi Tết lấy một nhúm trộn với nước, trét lên chân bàn thờ, "cho ông bà biết nhà mình còn ở trên đất bồi". Ông mất rồi thì cha nó làm. Cái hũ còn chừng một phần ba.
Mẹ nó mở nắp, lấy cái muỗng gáo dừa múc ra một vốc. Đất khô đã lâu, nhưng vẫn còn cái màu đỏ nâu như gạch non, mịn tới nỗi khi bà rót nó vào lòng bàn tay, nó chảy như bột. Bà đổ nó vào một cái túi vải nhỏ bằng nắm tay, may bằng vải tám đen, miệng túi có sợi dây gai. Bà buộc chặt, cột thêm một vòng, rồi đeo vào cổ Ngạn.
– Đất này bồi nên cái doi nhà mình, – bà nói. – Mày đi đâu thì mang theo cho có chỗ mà đứng.
– Mẹ lấy của ông bà, rồi Tết lấy gì trét?
– Tết thì lấy đất thường. Ông bà không giận đâu.
Bà nói xong thì quay đi dọn chỗ ngủ, không cho nó thấy mặt.
Sáng hôm sau, Ngạn xuống ghe ông Ba Đùng ở bến Vàm Sậy. Ông chở lúa thuê lên tận Ba Cửa, đi ngang chân núi Nhạn Hồi, lấy nó một quan rưỡi cho chín ngày, với điều kiện nó phụ chèo. Tay nải của nó có hai bộ đồ, bốn quan tiền và một bọc cơm nắm muối mè. Cha nó không ra bến được. Lúc nó đi, ông nằm trên chõng, chỉ nói một câu:
– Lên đó thì coi người ta đắp bờ bằng cái gì.
Ghe đi chậm, mỗi khúc quanh phải nép vô bờ chống sào từng chút. Ngạn chèo mũi, tới ngày thứ ba thì cánh tay chai cứng. Hai bên bờ toàn những xóm giống hệt xóm nó: bờ dựng đứng, nền nhà bỏ hoang, gốc bần chết chơ vơ giữa nước. Có chỗ người ta đóng cừ tràm nhồi đá. Có chỗ người ta đã bỏ đi hết.
Tối thứ tư, ghe ông Ba Đùng ghé bến chợ Cái Tràm, cặp mạn một chiếc ghe lớn hơn, sơn đen, mũi có vẽ hai con mắt đỏ. Chiếc ghe đen chở hàng xuôi, hàng gì thì Ngạn không biết, chỉ thấy nó đóng trong những cái thùng gỗ nhỏ, niêm sáp, mỗi thùng có hai người khiêng. Trên mũi ghe có một người đàn ông đứng im, đeo kiếm. Người ở bến không ai dám tới gần.
– Ghe Linh Nê, – ông Ba Đùng nói nhỏ. – Đừng có ngó.
Nhưng Ngạn đã ngó. Một cái thùng trượt tay người khiêng, rơi xuống ván mạn, bể một góc. Thứ bên trong tràn ra một ít: một thứ bùn đen nâu, bóng như mỡ, dẻo như bột nếp, và tỏa ra thứ hơi mát lạnh mà ngồi cách hai sải Ngạn vẫn thấy rần rần trên da mặt. Người đeo kiếm quay lại, tát người khiêng một cái nghe chát, rồi cúi xuống, dùng một cái thìa bạc vét từng chút bùn trên ván bỏ lại vào thùng, vét kỹ tới nỗi liếm cả kẽ gỗ.
Ngạn không để ý tới cái tát. Nó để ý tới cái mùi.
Gió đưa qua mạn ghe một thứ mùi ngai ngái, mùi đất ướt sau cơn mưa đầu mùa, mùi rơm mục, mùi bờ ruộng lúc nước vừa rút. Nó biết cái mùi đó. Nó đưa tay lên cái túi vải đen trên ngực. Cái túi vẫn khô. Nhưng mỗi năm, vào ngày ba mươi Tết, khi cha nó trộn nhúm đất trong hũ với nước để trét chân bàn thờ, cả cái nhà lá nồng lên đúng cái mùi này.
– Ông Ba, – nó hỏi khẽ, – Linh Nê là cái gì vậy ông?
Ông Ba Đùng nhổ một bãi nước trầu xuống sông.
– Là thứ mấy ông tiên ăn để lên phép. Một cân bằng một cân vàng. Người ta vét dưới đáy cái hồ trên nguồn, chỗ cái đập nhà họ Nghiêm, chở đi bán cho mấy tiên tông. Ghe này xuống cửa biển. Còn ghe ngược lên Nhạn Hồi thì nhiều gấp mấy. Ông tiên trên đó mua nhiều nhất.
Ngạn nhìn cái thùng gỗ vừa được niêm lại, nhìn người đàn ông đeo kiếm đang lau cái thìa bạc vào vạt áo.
Dưới đáy hồ trên nguồn. Chỗ cái đập.
Đêm đó, nó nằm trên mui ghe, cái túi đất đè lên ngực, nghe tiếng nước trong vắt vỗ vào mạn ghe suốt tới sáng.
— Hết chương 1 —
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe