AI Truyện
Phù sa cho sông đói

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Người giữ Đê Sau

Phù sa cho sông đói · Chương 3/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Người giữ Đê Sau

Con đường mòn có phân trâu dẫn Ngạn đi vòng ra sau núi suốt nửa buổi sáng, qua một rừng tre gai, qua hai con suối cạn. Rồi nó đổ xuống một thung lũng hẹp, nơi gió thổi lạnh như gió bấc tháng Chạp.

Ngạn dừng lại ở mép rừng.

Trước mặt nó là một con đê.

Nó đã thấy nhiều đê. Đê bao ruộng ở Hạ Phù, đê ngăn mặn ngoài cửa biển, đê làng cao ngang ngực người, mùa nước nổi đứng trên đó nhìn ra mênh mông. Nhưng con đê này khác. Nó chạy ngang miệng thung lũng, nối hai sườn núi, dài chừng nửa dặm, cao tới mức Ngạn phải ngửa cổ mới thấy mặt đê. Mái đê xanh rì cỏ gà, đều như ai cắt bằng kéo. Chân đê có một cái ao nước đọng, lăn tăn bèo tấm. Và trên mặt đê, nhỏ như con kiến, một người đang dắt một con trâu đi chầm chậm.

Ngạn leo lên. Mất gần một khắc.

Trên đỉnh đê, gió đập vào mặt nó ràn rạt. Nó quay nhìn sang phía bên kia, và đứng chết trân.

Phía bên kia đê là một lòng sông.

Một lòng sông khô cong, rộng gấp ba sông Phù chỗ Doi Lở, chạy dài về phía bắc, ngút tầm mắt, uốn lượn giữa hai dãy núi. Đáy sông toàn đá cuội xám trắng, chen giữa là những vạt cát vàng, những cái vũng nước đọng đen ngòm. Xa xa, có những thứ trắng hếu nằm vắt ngang lòng sông, cong cong như những cái sườn ghe khổng lồ. Ngạn mất một lúc mới hiểu đó là xương. Xương cá. Cá gì mà một cái xương sườn dài bằng cả chiếc ghe ông Ba Đùng.

Và trên tất cả, một lớp sương mỏng màu tro phủ xuống, đứng im, không bay theo gió.

– Lòng Sông Cũ, – ông già nón rách nói. Ông đã dắt trâu tới đứng cạnh nó từ lúc nào. – Hồi xưa, mỗi mùa lũ, sông Phù tràn qua đây mà xuống. Giờ thì khô rồi. Mười hai năm tông môn mở trận một lần cho đệ tử vào lượm đá. Còn lại thì không ai được qua đê. Ta giữ cái đê này.

Ngạn nhìn ông. Dưới ánh sáng ban ngày, ông già trông không khác gì một ông nông dân ở Hạ Phù: da đen sạm, râu tóc bạc lốm đốm, áo vải nâu vá vai, hai ống quần xắn tới gối dính bùn khô. Chỉ có đôi mắt. Đôi mắt ông màu nâu đục, như nước ao sau mưa, và khi ông nhìn ai thì người đó có cảm giác mình đang bị đo.

– Con chào ông.

– Kêu thầy. Ta họ Kiều. Người trên núi kêu ta Kiều Lão, có đứa sau lưng kêu là ông già giữ đê. Kêu gì thì kêu, miễn là làm việc.

– Thầy cho con học?

– Ta cho mày làm tạp dịch Đê Sau. Tông chủ ký rồi. – Ông vỗ lưng con trâu, con trâu đen già, sừng gãy một bên, phì một hơi qua mũi. – Luật của tông môn: tạp dịch có một trăm ngày. Một trăm ngày mà không mở được một mạch thì xuống núi, không đợi kỳ sau, không thi lại. Còn mở được thì ở lại, ghi tên ngoại môn.

– Một trăm ngày. – Ngạn nhẩm lại.

– Đứa căn tốt mở mạch đầu trong mười ngày. Thằng Nghiêm hôm qua chắc mở trong ba ngày. Đứa căn kém thì năm mươi, sáu mươi ngày. Còn mày, ta không biết. Chưa thấy đứa nào giống mày.

Con trâu tên là Nghé Già. Kiều Lão dùng nó để đầm đất. Mỗi sáng, Ngạn dắt nó đi trên mặt đê, từ đầu này qua đầu kia, rồi trở lại, mỗi bước chân trâu nện xuống làm đất chặt thêm một chút. Rồi nó cắt cỏ, vá những chỗ chuột đào, gánh đất sét từ một hố đất dưới thung lũng lên trét vô những vết nứt nhỏ trên mái đê. Toàn là việc nó làm từ năm tám tuổi theo cha. Tay nó quen.

Buổi chiều, Kiều Lão bắt nó ngồi trong cái ao bèo dưới chân đê, nước ngập tới rốn.

– Ngồi đó làm gì thầy?

– Ngồi nghe nước.

Ông đưa cho nó một cuốn sách cũ, giấy dó vàng khè, bìa bằng mo cau ép, chữ viết tay. Bốn chữ trên bìa: Thủy Lợi Kinh.

– Tổ sư của Quy Nhạn Tông là một ông nông dân. Người ta kêu ổng là Tổ Cày. Ổng không biết chữ thánh hiền, ổng biết nước. Ổng viết cuốn này bằng tiếng của người làm ruộng. Bây giờ tông môn học cuốn Quy Nhạn Chân Kinh do mấy đời tông chủ sau soạn lại, chữ nghĩa đẹp hơn, kêu Khai Mạch, Trúc Cơ, Kết Đan cho nó sang. Cuốn này còn có ba bản, hai bản nằm trong Tàng Thư Các không ai mượn. Bản này của ta.

Ngạn lật ra. Chữ không khó đọc. Câu đầu tiên viết: "Linh khí là nước. Trời đất là ruộng. Người là cái mương."

Kiều Lão giảng cho nó vào những buổi tối, ngồi trên mặt đê, nhai trầu.

– Khí trong trời đất như nước. Ở đâu cũng có, nhưng không tự chảy vô người mình. Muốn nó chảy vô thì phải đào mương. Trong người có chín mạch lớn, mở được một mạch là một tầng. Cái đó Tổ Cày kêu là Khơi Mương. Đủ chín tầng thì mương có rồi, mà nước chảy vô bao nhiêu rỉ ra bấy nhiêu, nên phải đắp bờ cho nó. Đó là Đắp Bờ. Bờ chắc rồi thì gom nước lại, đào một cái đầm trong bụng, giữ nước lại đó mà dùng. Đó là Tích Đầm.

– Rồi sau đó?

– Sau đó, đầm đầy thì cho nó chảy ra. Mình thành ra một con sông, khí trong người với khí ngoài trời đất nối với nhau thành một dòng. Đó là Thành Sông. Tông chủ Chu là Thành Sông. Cả Quy Nhạn Tông chỉ có ổng.

– Còn sau nữa?

Kiều Lão nhổ bã trầu xuống mái đê.

– Ra Biển. Tổ Cày viết vậy. Sông nào rồi cũng ra biển. Chưa ai thấy ai Ra Biển, trừ ổng. Mà cũng không ai thấy ổng nữa.

Ngạn ngồi im một lúc.

– Còn thầy? Thầy tới đâu?

– Tích Đầm. Cái đầm của ta cạn như ao mùa khô. – Ông cười, lần đầu tiên Ngạn thấy ông cười, cái miệng móm, răng đen bóng. – Mấy đứa nội môn trên kia nói vậy. Tụi nó nói đúng.

Rồi ông giảng về cái căn của nó.

– Bữa đó mày đổ bình, nước không gợn. Ai cũng tưởng không căn. Nhưng nước trong bình mày ba ngày không vơi. Căn có hai thứ. Thứ căn động, như thằng Nghiêm, khí vô nhanh, ra nhanh, đụng cái gì cũng dội lại. Còn thứ căn giữ. Khí vô người căn giữ chậm như nước thấm đất sét, một giọt một giọt, nhưng thấm rồi thì không ra. Bình mày không vơi là vì cái người mày cầm nó không lấy của nó một giọt nào, mà cũng không cho nó bay một giọt nào. Đất sét tốt thì vậy.

– Vậy con mở mạch được không thầy?

– Được. Nhưng chậm. Rất chậm.

Ngày thứ mười, Ngạn bắt đầu thấy một thứ gì mát lạnh chạy trên da khi ngồi trong ao. Ngày thứ hai mươi, nó cảm được cái lạnh đó đi vô lỗ chân lông, như nước thấm vô một cái bờ ruộng khô. Ngày thứ ba mươi, cái lạnh dừng lại ở đâu đó dưới rốn, lởn vởn, không đi đâu nữa.

Ngày thứ bốn mươi mốt, Nghiêm Thế Khải tới Đê Sau.

Nó đi một mình, không có người hầu, áo trắng đã đổi thành áo lam của nội môn. Nó leo lên mặt đê nhanh như đi trên đất bằng, mũi chân chạm cỏ không làm cong ngọn. Ngạn đang dắt Nghé Già đi đầm đất, ngừng lại.

– Ngươi chưa mở mạch, – Khải nói. Không phải hỏi.

– Chưa.

– Ta mở sáu mạch rồi. – Nó nói câu đó như người ta nói trời hôm nay nắng. – Không phải để khoe. Để ngươi biết ta nói chuyện với ngươi không phải vì ta rảnh.

– Vậy ông tới đây làm gì?

Khải không trả lời ngay. Nó bước ra mép đê phía Lòng Sông Cũ, đứng nhìn lớp sương tro đứng im. Rồi nó quỳ một gối xuống, đặt lòng bàn tay lên mặt đê, nhắm mắt.

– Ngươi nghe được không?

– Nghe gì?

– Tiếng nước. Sâu dưới này. – Nó mở mắt, nhìn Ngạn. – Có ai đó đang múc nước. Hoặc nước đang chảy. Một lòng sông khô, một con đê giữ cho nó khô, mà sâu bên dưới có tiếng nước. Ngươi ở đây bốn mươi ngày, ngươi không biết sao?

Ngạn chưa từng nghe gì. Nó cũng quỳ xuống, áp tay lên mặt đê. Chỉ thấy đất mát, cỏ gà nham nhám.

– Đó là tiếng gió trong hang.

Kiều Lão đứng sau lưng hai đứa, không biết từ lúc nào. Ông vẫn đội nón rách, vai vẫn gánh đôi sọt.

Khải đứng dậy, phủi gối, cúi chào đúng lễ đệ tử chào trưởng lão, không thiếu một nhịp.

– Đệ tử Nghiêm Thế Khải thỉnh an Kiều trưởng lão. Đệ tử không biết trong lòng núi có hang.

– Bây giờ biết rồi đó.

Khải nhìn ông thêm một lúc. Rồi nó quay sang Ngạn.

– Nhà ngươi ở Doi Lở. Ta có tra. Dưới Hạ Phù, ngay khúc quanh. – Nó ngừng một nhịp. – Dưới đập nhà ta nửa tháng ghe.

– Thì sao?

– Không sao. – Nó quay đi, rồi dừng lại ở mép đê phía bên kia. – Ngươi có căn, ta biết từ bữa ở Ao Soi. Khi nào ngươi mở mạch, ta sẽ đấu với ngươi một lần. Ta muốn biết cái thứ nước không gợn đó đỡ được bao nhiêu.

Nó đi rồi, Kiều Lão đứng một mình nhìn theo, rất lâu. Ông không nói gì về tiếng nước. Ngạn cũng không hỏi.

Nhưng tối đó, lúc ngồi nhai trầu trên mặt đê, nghe Ngạn kể chuyện cái doi, kể chuyện ông nội nói hồi xưa trên nguồn người ta đắp một cái đập to như núi, Kiều Lão lẩm bẩm:

– Không to như núi. Bốn mươi hai trượng. Đáy dày sáu mươi trượng.

– Sao thầy biết?

Ông im một lúc.

– Ở Nhạn Hồi ai mà không biết.

Ngạn nghĩ tới chuyện hẻm Đá Kẹp cách Nhạn Hồi bảy ngày ghe ngược. Nó không nói ra.

Cũng có một chuyện khác nó để ý. Đầu mỗi tháng, một đệ tử áo xám xuống Đê Sau, đưa cho Kiều Lão một cái hũ sứ nhỏ niêm sáp. Phần Linh Nê hàng tháng của trưởng lão. Kiều Lão nhận, cảm ơn, rồi đem cất vào một cái rương gỗ dưới gầm chõng. Ngạn thấy cái rương mở ra một lần. Trong đó có mấy chục cái hũ sứ y hệt, niêm sáp còn nguyên. Ông không ăn. Ông không bán. Ông cũng không cho.

Tín lên thăm nó hai lần, lần nào cũng xách theo một túi bánh. Lần thứ hai, Tín khoe nó đã mở được hai mạch.

– Nhờ Linh Nê đó mày. Cha tao gởi lên. Pha nước ấm, uống một muỗng, ngồi một đêm, sáng ra thấy cái mạch nó mở cái rột. – Tín nhìn quanh cái chòi lá của Kiều Lão, hạ giọng. – Ông già có phần Linh Nê không? Mày xin ổng một muỗng đi.

Ngạn nghĩ tới cái rương dưới gầm chõng. Nó lắc đầu.

Ngày thứ tám mươi, cái lạnh dưới rốn nó đã to bằng cái hột mít, nặng trĩu, nhưng không chịu đi đâu. Ngày thứ tám mươi lăm, nó ngồi trong ao từ sáng tới tối, tới lúc môi tím ngắt, mà cái mạch đầu tiên vẫn đóng im như cái cửa cống bị kẹt đất.

Ngày thứ chín mươi, Kiều Lão đi đâu mất ba ngày. Ông về lúc nửa đêm, Ngạn nghe tiếng trâu kêu nên ra coi. Ông đứng dưới chân đê, bùn ngập tới gối, ướt từ đầu tới chân, hai bàn tay trầy xước rướm máu như người vừa bới đá. Ông thấy Ngạn, chỉ nói một câu:

– Đừng hỏi.

Sáng ngày thứ chín mươi tám, ông gọi nó lên mặt đê.

– Còn ba ngày. Ngồi ao thì không kịp. – Ông chỉ tay về phía một ngọn núi đá dựng đứng ở cuối thung lũng, nơi có một vệt trắng mảnh như sợi chỉ treo từ trên xuống. – Thác Ngược. Nước ở đó không chảy xuống mà chảy lên, vì dưới chân thác có một mạch khí ngầm đẩy ngược. Đứng dưới đó một đêm, khí nó đập vô người như búa. Cái mạch kẹt thì phải đập cho nó bung ra.

– Nguy hiểm không thầy?

– Nhẹ thì điếc. Nặng thì chết. – Kiều Lão nhìn nó, cái nhìn đo người đó. – Hoặc là mày xuống núi. Về nhà. Còn kịp mùa cấy.

Ngạn nhìn về phía nam, nơi sông Phù khuất sau núi.

– Tối nay con đi.

— Hết chương 3 —

Mục lục Phù sa cho sông đói

  1. 1Nước trong là nước đói9 phút
  2. 2Bình nước lên Dốc Nhạn11 phút đọc
  3. 3Người giữ Đê Sau11 phút đọc
  4. 4Thác Ngược10 phút đọc
  5. 5Bảy mươi hơi thở10 phút đọc
  6. 6Lòng Sông Cũ10 phút đọc
  7. 7Túi cuội của Tín12 phút đọc
  8. 8Dấu nhạn trên đá chặn10 phút đọc
  9. 9Đắp bờ không lại sông11 phút đọc
  10. 10Người mang tiền đền9 phút đọc
  11. 11Làng Gốm Đỏ10 phút đọc
  12. 12Đóng một bờ11 phút đọc
  13. 13Sân Bè ở Ba Cửa10 phút đọc
  14. 14Ông Thạch Cụt10 phút đọc
  15. 15Sáu mươi năm khoét đê10 phút đọc
  16. 16Chung kết bên tai điếc9 phút đọc
  17. 17Ấn Thủ Đập10 phút đọc
  18. 18Cổ Họng Đá9 phút đọc
  19. 19Thành Sông10 phút đọc
  20. 20Nước đỏ về Doi Lở10 phút đọc

Về truyện này

Phù sa cho sông đói là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →