Chương 6: Lòng Sông Cũ
Trận mở vào giờ Thìn ngày mồng tám tháng Tư, và việc đầu tiên Lòng Sông Cũ làm là nuốt mất tiếng động.
Ba mươi đệ tử đứng thành hàng trên mặt Đê Sau. Tông chủ Chu đứng ở đầu hàng, áo lam phần phật, giơ một tay lên. Bốn vị trưởng lão đứng bốn góc, mỗi người cầm một lá cờ đen. Kiều Lão không đứng trong hàng trưởng lão. Ông đứng ở dưới chân đê, cạnh con Nghé Già, đội nón rách, như một ông nông dân ra coi người ta làm lễ.
Tông chủ Chu hạ tay xuống. Lớp sương màu tro trên lòng sông khô, lớp sương đứng im suốt ba năm Ngạn nhìn nó, rách ra ở giữa như một tấm vải mục. Một con đường hở ra, rộng chừng mười sải, dẫn từ chân đê xuống đáy sông.
– Bảy ngày, – Tông chủ Chu nói, giọng ông êm như mọi khi. – Mặt trời lặn ngày thứ bảy, trận đóng. Ai chưa ra thì ở lại trong đó mười hai năm. Chưa ai ở lại mười hai năm mà còn sống. Đi.
Ba mươi người bước xuống. Ngạn đi cuối, Tín đi bên phải nó. Vừa bước qua mép sương, mọi tiếng động phía sau tắt ngấm. Không còn tiếng gió trên đê, không tiếng cờ bay, không tiếng trâu thở. Ngạn quay lại. Con đê vẫn đó, mờ mờ sau màn sương, người trên đê vẫn đứng đó, nhưng như bức tranh vẽ trên giấy dó.
Đáy Lòng Sông Cũ khô và lạnh. Đá cuội lớn nhỏ trải ra ngút mắt, màu xám trắng, chen giữa là cát vàng mịn. Không có cỏ. Không có cây. Không có cả rêu.
Cột mốc thứ nhất đứng cách đê chừng một khắc đi bộ, một khối đá xanh vuông cao ngang ngực, khắc chữ "Nhất". Qua khỏi nó, ba mươi người tản ra. Đệ tử nội môn đi thành nhóm bốn năm người, lao thẳng về phía bắc, chân không chạm đất. Nghiêm Thế Khải dẫn đầu một nhóm năm người, lướt qua mặt Ngạn như cơn gió, không ngoái lại.
– Tụi nó đi lên trên hết, – Tín nói. – Cuội càng lên trên càng to, càng già. Nghe nói ở cột chín có hột to bằng trái bưởi.
– Đúng vậy, – Ngạn nói. – Nước lũ chở đá, mỏi tới đâu thì thả tới đó. Đá nặng thả trước, ở trên. Cát nhẹ thì chở đi xa, thả ở dưới.
– Sao mày biết?
– Cha tui nói.
Hai đứa không đuổi theo nhóm nội môn. Ngạn đi chậm, mắt không nhìn xa mà nhìn xuống chân. Đáy sông khô nhưng không phẳng. Nó uốn lượn, có chỗ lõm, chỗ gồ, chỗ cát dồn thành bãi. Ngạn đi dọc theo mép trong của mỗi khúc quanh.
– Sao mày cứ đi sát bờ trong vậy? – Tín hỏi.
– Nước lũ đi khúc quanh thì chạy mạnh ở bờ ngoài, chậm ở bờ trong. Chỗ chậm nó thả đồ xuống. Doi Lở nhà tui là bờ ngoài. Bên kia sông, bãi Cồn Tre, là bờ trong. Năm nào Doi Lở mất bao nhiêu thì Cồn Tre được bấy nhiêu, hồi xưa.
Nó cúi xuống, gạt lớp cát vàng ở một bãi bồi trong khúc quanh. Dưới lớp cát, đá cuội nằm xếp lớp, viên nào cũng nhẵn, và giữa đám đá xám có mấy viên màu xanh lục mờ, cầm lên thấy mát lạnh, rần rần trong lòng bàn tay như cầm một con dế.
Cuội Linh.
Tới chiều ngày thứ hai, cái túi da của Tín đã có gần sáu chục viên, túi vải của Ngạn có hơn bốn chục. Nhóm nội môn chạy lên phía trên lượm được mấy viên to, nhưng chỉ lượm những viên nằm trên mặt. Ngạn lượm những viên nằm dưới lớp cát, ở những chỗ không ai để ý.
Đêm thứ hai, hai đứa ngủ cạnh cột mốc thứ ba, trong hõm một cái xương cá.
Cái xương to như mái nhà, cong vút, trắng như vôi. Theo lời Kiều Lão, đó là xương cá Hô Lũ, loài cá theo nước lũ từ thượng nguồn về, mỗi mùa lũ kêu lên một tiếng rền như sấm, người xưa nghe tiếng cá kêu là biết nước sắp lên. Từ khi sông Phù không còn chảy qua đây, cá Hô Lũ cũng không còn. Những con cuối cùng mắc cạn lại ở đây, chết khô, xương nằm đó hơn tám chục năm.
Tín nằm trong hõm xương, đếm đi đếm lại số Cuội Linh trong túi.
– Một trăm hai chục viên là đủ, – nó nói, nửa với Ngạn, nửa với chính nó. – Ngậm một tháng, một ngày bốn viên, lên được tầng chín. Còn sáu mươi lăm viên nữa.
– Còn năm ngày.
– Còn năm ngày.
Đêm đó, Ngạn áp tai phải xuống cát. Nó nghe tiếng nước. Rõ hơn trên Đê Sau. Không phải tiếng sột sột. Một tiếng ào ào trầm, sâu, xa, như tiếng sông nghe từ trong một cái nhà đóng kín cửa. Tiếng đó tới từ phía bắc.
Ngày thứ ba, thứ tư, hai đứa đi chậm lại, vì càng lên cao, những bãi bồi trong khúc quanh càng bị nhóm nội môn quần nát. Cuội Linh vẫn có, nhưng thưa. Lòng sông cũng khác đi. Bắt đầu xuất hiện những vũng nước đọng màu đen, mặt nước phẳng lì, không có lấy một con bọ gạo. Bên trên mỗi vũng, lớp sương tro dày hơn, đặc hơn, và chìm xuống sát mặt nước như một lớp váng mỡ.
– Khí Tù, – Ngạn nói. Kiều Lão đã dặn nó. – Khí đọng lại trong vũng chết, lâu ngày thì thối. Đứng gần thì tê chân. Lội vô thì tê tới tim.
– Ông già dặn mày nhiều thứ ghê.
– Ổng dặn ông nữa mà ông không nghe.
Ngày thứ tư, giữa trưa, gần cột mốc thứ sáu, hai đứa nghe tiếng la.
Tiếng la vọng tới từ một khúc quanh phía trước, nghẹt và đứt đoạn như có ai bịt miệng người la. Ngạn chạy. Tín chạy theo, cái túi cuội đập lạch bạch vô hông.
Qua khúc quanh, nó thấy một vũng Khí Tù lớn, rộng bằng cái ao làng, nằm trong một lòng chảo đá. Lớp sương tro trên vũng không còn nằm im. Nó đang dâng lên, cuồn cuộn, như nồi cơm sôi trào, tràn qua mép vũng, lan ra hai bên. Giữa lớp sương có bóng người. Bốn người. Ba người nằm sóng soài, bất động. Một người đứng, chân lún trong sương tới đầu gối, hai tay đang lôi một người nằm, lôi từng chút một, như kéo một cái bao lúa ướt.
Người đứng là Nghiêm Thế Khải.
Mặt nó tái mét, môi tím, cánh tay run bần bật. Áo lam nội môn ướt đẫm mồ hôi. Nó thấy Ngạn, há miệng định nói gì đó, nhưng chỉ thở ra một làn hơi trắng đục.
– Đừng vô! – Tín nắm cánh tay Ngạn. – Tụi nó Đắp Bờ còn nằm đó! Mày vô là chết!
Ngạn đứng ở mép sương, nhìn.
Tụi nội môn là căn động. Khải đã nói vậy, Kiều Lão đã nói vậy: căn động thì khí vô nhanh, ra nhanh. Khí Tù vô tụi nó nhanh như nước tràn vô ruộng khô. Còn nó...
– Ông đứng đây. Đào giùm tui một cái rãnh.
– Cái gì?
Ngạn chỉ xuống phía dưới lòng chảo. Ở đó, cách vũng chừng hai mươi sải, có một cái hố sâu khô.
– Sương đó là nước. Nước thì chảy xuống chỗ thấp. Ông đào từ mép vũng chỗ thấp nhất, xuống cái hố kia. Sâu cỡ đầu gối là được. Đào lẹ.
Rồi nó lội vô.
Khí Tù chạm tới chân nó lạnh như nước đá. Ngạn cảm thấy nó bám vào da, tìm đường thấm vô. Nhưng da nó là đất sét. Cái lạnh bám trên đó, rỉ vô một chút, rất chậm, chậm như ba năm trước nước ao thấm vô người nó. Chân nó tê dần, nhưng còn bước được.
Nó tới chỗ Khải. Không nói gì, nó cúi xuống, xốc người đệ tử nội môn Khải đang lôi, vác lên vai, lội ra.
Tín đã đào xong một khúc rãnh, đang cào bằng hai tay, mồ hôi nhễ nhại. Ngạn đặt người vừa vác ra ở chỗ đất khô, rút cái mai gỗ lim, đào tiếp từ đầu rãnh bên kia. Mai lim đen cắm vô đá cuội lẫn cát như cắm vô bùn, mỗi nhát hất lên cả đống. Chừng hai mươi nhát thì rãnh nối thông từ mép vũng xuống miệng hố.
Lớp sương tro dềnh tới mép rãnh. Nó ngập ngừng. Rồi nó tràn vô, chảy dọc theo rãnh, đổ xuống hố, chậm như mật ong chảy. Mặt vũng hạ xuống từng chút.
Ngạn lội vô lần thứ hai. Lần thứ ba. Mỗi lần vác ra một người. Lần thứ ba, chân nó đã tê tới hông, đi như đi cà kheo. Lần thứ tư, nó tới chỗ Khải.
Khải vẫn đứng. Lớp sương đã hạ xuống chỉ còn ngang bắp chân, nhưng nó không bước được nữa. Hai chân nó như cắm rễ xuống đáy vũng.
– Ta tự đi được, – Khải nói, giọng khàn đặc.
– Ông không đi được.
Ngạn quàng cánh tay Khải qua vai mình. Hai đứa lết ra khỏi vũng, từng bước, từng bước. Lúc chân Khải chạm đất khô, nó khuỵu xuống, nằm ngửa trên đá cuội, thở dốc.
Ba người kia đã tỉnh, nằm rên. Không ai chết. Nhưng một đứa, đứa lội vô vũng đầu tiên, hai chân tím đen tới gối, không cử động được. Phải có người khiêng nó về.
Khải nằm im rất lâu, nhìn trời. Rồi nó ngồi dậy, nhìn Ngạn. Nhìn đôi chân run bần bật của Ngạn, nhìn cái mai gỗ lim, nhìn cái rãnh Tín đào.
– Ta nợ ngươi một mạng.
– Không có nợ gì hết.
– Có. – Khải đứng dậy, lảo đảo, nhưng đứng thẳng. – Nhà ta không để nợ qua đêm. Nhưng nợ này ta chưa trả được, nên ta nói ra cho ngươi biết. Ngươi nhớ, ta cũng nhớ.
Nó quay sang hai đứa nội môn còn đi được, ra lệnh khiêng đứa bị thương về Đê Sau. Còn nó thì đi tiếp lên phía bắc. Một mình.
– Ông không về sao? – Tín hỏi.
– Ta tới đây để lấy cuội ở cột chín, – Khải nói, không quay lại. – Ta chưa lấy được.
Chiều ngày thứ năm, Ngạn và Tín tới cột mốc thứ bảy.
Túi Tín có chín mươi tám viên. Túi Ngạn có sáu mươi. Hai đứa ngồi dựa lưng vô cột đá, nhìn lên phía bắc. Từ đây lên, lòng sông hẹp lại giữa hai vách núi, Khí Tù dày đặc ở hai bên, nhưng ở giữa có một lối đi khô. Và trên lối đi khô đó, những bãi bồi trong khúc quanh còn nguyên, chưa ai đụng tới. Ngạn nhìn thấy cả từ đây: những đốm xanh lục lấp lánh dưới nắng chiều, nằm phơi trên mặt cát.
– Hai mươi hai viên, – Tín nói khẽ. – Tao chỉ cần hai mươi hai viên nữa.
Ngạn không trả lời. Nó nhớ Kiều Lão đứng trên mặt đê, chỉ tay về phía bắc. Đi tới cột thứ bảy thì quay về.
Đêm đó, nó áp tai xuống cát.
Tiếng nước không còn xa nữa. Nó ầm ầm ngay dưới đất, ngay phía trước, như có một con sông đang chảy bên kia một bức vách. Ngạn ngồi dậy, nhìn về phía bắc. Dưới ánh trăng mười hai, nơi hai vách núi khép lại ở cuối tầm mắt, có một đường kẻ đen thẳng tắp nằm vắt ngang lòng sông, từ vách bên này qua vách bên kia. Không có gì trong tự nhiên thẳng như vậy.
Một con đê.
Bên cạnh nó, Tín cũng đã ngồi dậy, nhìn cùng một hướng.
– Đi thêm một cột thôi, – Tín nói. – Một cột thôi, rồi về.
— Hết chương 6 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe