Chương 10: Người mang tiền đền
Ngạn xin cha một nhúm đất trong hũ.
Ông Vạc không hỏi để làm gì. Ông chống gậy tới bàn thờ, mở nắp hũ, lấy cái muỗng gáo dừa múc ra một muỗng vun, đổ vào lòng bàn tay con. Rồi ông đậy nắp lại, thắp một nén nhang, khấn lầm rầm cái gì đó Ngạn không nghe rõ.
Đêm đó trăng khuyết, nước sông Phù vẫn còn cao. Ngạn xách một cái thùng gỗ xuống Bàu Sen.
Bàu Sen nằm ở bờ ngoài khúc quanh dưới, nơi nước đổ thẳng vô rồi mới quặt đi. Bốn mươi sải đất mất trong một đêm để lại một vách đứng cao quá đầu người, đất cát lởm chởm, rễ cây trồi ra. Dưới chân vách, nước xoáy chậm, trong veo, Ngạn soi đèn thấy được cả đáy cát vàng đang bị kéo đi từng sợi.
Nó múc đầy thùng nước sông. Rồi nó thả nhúm phù sa vào.
Một nhúm đất trong một thùng nước thì chẳng là gì. Nó tan ra, nước đục lên một chút như nước vo gạo lần ba, rồi lắng dần. Ngạn đặt tay trái lên miệng thùng, dồn khí xuống. Không đắp bờ. Nó làm một việc ngược lại: nó khuấy. Nó cho khí len vô từng hạt đất, đẩy chúng ra xa nhau, giữ cho chúng lơ lửng không chìm. Nước trong thùng đục dần lên, đục đều, rồi đỏ nâu, đỏ như nước sông trong lời kể của ông nội nó. Một nhúm đất mà đỏ cả thùng. Khí đã làm nó nở ra như hột bo bo ngâm nước.
Nó đổ thùng nước đỏ xuống chân vách lở.
Nước đỏ không tan ngay vô dòng trong. Nó chảy dọc chân vách thành một vệt dài chừng ba bốn sải, mỏng, đục, như một dải lụa nâu trôi sát bờ. Ngạn ngồi xổm, soi đèn, nhìn.
Ở chỗ nước trong chạm vách đất, cát bị kéo đi từng sợi. Ở chỗ có vệt nước đỏ chảy qua, cát nằm yên.
Nó ngồi đó tới gần sáng, nhìn cho tới khi vệt đỏ loãng ra, trôi đi, và nước trong lại liếm vô chân vách. Cát lại bắt đầu chạy.
Sáng ra, nó kể với cha.
– Nước có chở đất thì nó không gặm bờ, – nó nói. – Cha nói đúng. Nó đói là vì nó không có gì trong bụng. Cho nó đất thì nó no.
– Một nhúm đất no được bao lâu?
– Một đêm. Ba sải bờ.
Ông Vạc ngồi im. Ngạn biết ông đang tính, như ông tính mỗi lần đứng trước một con kinh cần đào. Sông Phù dài cả tháng ghe. Hai bên bờ có bao nhiêu xóm như Doi Lở, như Bàu Sen. Một hũ phù sa ông nội để dành gần tám mươi năm.
– Phải có một sông đất, – ông nói. – Một hũ thì không đủ.
– Có một sông đất, cha. – Ngạn nhìn lên phía bắc. – Nó nằm dưới đáy hồ Trữ Linh. Người ta vét nó lên, bỏ vô hũ sứ, bán ba lạng bạc một lạng.
Hai cha con không nói gì nữa.
Chiều hôm đó, Ngạn xuống doi, đứng ở chỗ cái bờ khí nó đắp hồi tháng Bảy. Nó đặt tay xuống nước, rút hết khí ra. Lớp kính màu nâu mờ dưới mặt nước tan đi như sương sớm. Ông Hai Lù đứng trên đê thấy, chạy xuống la ơi ới. Ngạn không giải thích. Ông Vạc giải thích giùm nó, bằng một câu:
– Mình không ăn no được thì cũng đừng ăn phần của Bàu Sen.
Cuối tháng Chín, nước bắt đầu rút. Đầu tháng Mười, một chiếc thuyền bay hạ xuống bãi đất trống trên đê Doi Lở.
Nó không to bằng chiếc thuyền đen ở Giếng Đầu năm nào, nhưng cũng dài gấp đôi chiếc ghe ông Ba Đùng, gỗ sơn son, mũi chạm đầu rồng. Cả xóm chạy ra. Mấy đứa con nít trốn sau lưng mẹ. Ông Hai Lù khúm núm đứng trước hàng, ngực ưỡn ra, mặt xanh lét.
Người bước xuống trước là một ông quản sự áo dài đen, tay ôm một cái tráp gỗ. Người bước xuống sau mặc áo lam nội môn Quy Nhạn Tông, tóc búi cao, mười chín tuổi, cao hơn ba năm trước gần một cái đầu.
Nghiêm Thế Khải.
Ông quản sự mở tráp, rút ra một tờ giấy, đọc to. Nghiêm gia thương xót dân Hạ Phù khổ vì lở đất, xin đền cho mỗi hộ sống ven bờ năm lạng bạc, để dời vô trong đất liền, lập nghiệp chỗ khác. Hộ nào nhận bạc thì điểm chỉ vô giấy, cam kết không ở lại bờ sông, không kêu với Liên Minh về chuyện lở đất nữa.
Cả xóm im lặng một lúc. Rồi có tiếng xì xào. Năm lạng bạc. Năm lạng bạc là bằng nửa con trâu.
Ông Hai Lù bước lên điểm chỉ đầu tiên. Rồi ông Năm Chuột. Rồi từng nhà, từng nhà. Có người vừa điểm chỉ vừa lạy ông quản sự. Mẹ Ngạn đứng nhìn, tay vò vạt áo. Cha nó đứng chống gậy, không nhúc nhích.
Khải không nhìn đám người điểm chỉ. Nó đứng tách ra một bên, nhìn Ngạn.
Tối đó, hai đứa ngồi trên mặt đê, cách nhau một sải tay. Khải ngồi bên phải. Ngạn để ý chuyện đó, không nói gì.
– Ông tới đây làm gì? – Ngạn hỏi. – Đi đưa bạc thì ông quản sự đi được rồi.
– Ta xin đi. – Khải nhìn ra sông. Ánh trăng chiếu xuống mặt nước trong vắt, thấy cả bóng mấy cái cọc tre mục dưới đáy. – Ta muốn coi chỗ ngươi ở.
– Coi rồi đó.
– Ừ. Coi rồi.
Hai đứa im một lúc.
– Nhà ông đền năm lạng bạc, – Ngạn nói, – để người ta khỏi kêu với Liên Minh. Để người ta đi chỗ khác, khỏi ở đây làm chứng cái bờ lở.
– Ngươi nói đúng. – Khải không chối. – Ông nội ta không làm chuyện gì mà không tính. Nhưng năm lạng bạc vẫn là năm lạng bạc. Không có nó, nhà ngươi năm nay ăn gì?
Ngạn không trả lời được.
– Ta thấy cái bia rồi, – Khải nói tiếp. – Hôm trong Lòng Sông Cũ, ta lên tới cột chín trước ngươi một ngày. Ta biết ông già giữ đê của ngươi là ai. Kiều Bá Lư. Nhà ta thờ bài vị ông ta trong từ đường, ngang hàng với các đời gia chủ, suốt hai mươi bảy năm. Tới năm ông ta phản thì bài vị bị đập.
– Phản?
– Năm mươi sáu năm trước, ở Đại hội Bách Tông, ông ta đứng lên giữa Sân Bè, nói đập phải xả, phải trả đất cho hạ nguồn. Trước mặt mười chín tông môn. Ông nội ta không bao giờ quên. – Khải quay sang nhìn Ngạn. – Ngươi không biết chuyện đó.
Ngạn không biết. Nó ngồi im, nhìn mặt sông. Nó nhớ Kiều Lão bên lò lửa, hai bàn tay co trên đầu gối. Thầy biết rồi thì thầy làm gì. Ta giữ Đê Sau.
– Ta tới đây còn để nói với ngươi một chuyện, – Khải nói. – Bốn năm nữa, tháng Sáu, Đại hội Bách Tông. Đại hội xong, nhà ta sẽ nâng đập. Thêm chín trượng.
– Chín trượng.
– Hồ Trữ Linh sẽ rộng gấp rưỡi. Linh Nê vét được thêm hai trăm năm. – Khải ngừng một nhịp. – Và lũ sẽ không bao giờ tràn qua đập nữa.
Có cái gì đó trong giọng nó khi nói câu cuối, một cái gì đó không phải là kiêu. Ngạn quay sang nhìn. Gương mặt đẹp như con gái của Khải dưới ánh trăng cứng lại như tạc bằng đá.
– Mười một tuổi, – Khải nói, không nhìn Ngạn, – ta ở trấn Nghiêm Gia, ngay dưới chân đập. Năm đó mưa thượng nguồn bốn mươi ngày, nước hồ lên tới mép. Ông nội ta phải mở cửa xả gấp, nửa đêm. Nước xuống như núi đổ. Mẹ ta đang ở nhà ngoại dưới xóm bờ sông. Ba ngày sau người ta mới tìm được.
Ngạn không nói gì. Trong đầu nó có tiếng nước nuốt nửa căn nhà, tiếng ực, sâu và dài.
– Đập mà cao hơn chín trượng, năm đó không phải xả. – Khải đứng dậy, phủi áo. – Ngươi tin nước phải chảy. Ta tin nước phải giữ. Mỗi người có cái lý của mình. Ta nói cho ngươi biết chuyện nâng đập, vì ta còn nợ ngươi một mạng. Ngươi đừng dính vào. Nghiêm gia không phải Bàu Sen.
– Tui sẽ lên Đại hội.
Khải dừng lại. Nó quay đầu nhìn xuống Ngạn, rất lâu.
– Đại hội chỉ nhận người dưới ba mươi tuổi, đã tới Tích Đầm. Ngươi mới Đắp Bờ sơ kỳ. Bốn năm, từ Đắp Bờ sơ kỳ lên Tích Đầm, nội môn giỏi nhất của Quy Nhạn Tông cũng chưa ai làm được. Mà ngươi rời tông rồi, không thầy, không Linh Nê, không Cuội Linh.
– Tui biết.
– Ngươi không biết. – Khải nói, giọng không lạnh, cũng không mỉa. – Ta sắp chạm Tích Đầm, ta biết nó cần gì. Lên được Tích Đầm rồi hãy tới, kẻo chết uổng.
– Còn món nợ của ông?
– Ta trả ở Sân Bè. – Khải quay đi, bước về phía thuyền bay. – Nếu ngươi tới được.
Sáng hôm sau, thuyền bay cất cánh, mang theo hai chục tờ giấy điểm chỉ của xóm Doi Lở. Trong tráp gỗ của ông quản sự, chỉ có một tờ giấy còn trắng, chưa ai điểm chỉ. Tờ của nhà ông Phùng Văn Vạc.
Trong chòi, mẹ Ngạn đếm lại số bạc còn trong ống tre, đếm hai lần. Rồi bà úp ống tre xuống, không nói gì.
– Bà giận tui hả? – ông Vạc hỏi.
– Giận thì cũng đâu có ăn được. – Bà đứng dậy, đi bắc nồi cơm. – Mà năm lạng bạc nhà người ta, ăn rồi thì phải đi. Đất ông bà ở đây.
Ngạn ở nhà tới qua Tết. Ngày mồng bốn, nó cuốn một cái chiếu, gói hai bộ đồ, nhét vô tay nải một nắm cơm cháy. Nó không biết đi đâu. Nó chỉ biết lời Khải nói không sai: không thầy, không Linh Nê, không Cuội Linh, thì bốn năm nữa nó vẫn là thằng điếc Đắp Bờ sơ kỳ.
Ông Vạc ngồi trên bậc chòi, đưa cho nó một thứ. Một mảnh giấy gấp tư, cũ, mép đã sờn.
– Hồi tao còn trẻ, theo một ông thầy đào kinh lên tận cao nguyên Mây Đá, ngược sông Mây sáu ngày từ Ba Cửa. Có một bà thợ gốm trên đó, ở làng Gốm Đỏ. Bả có phép. Bả nói với tao một câu tao nhớ hoài: "Đắp bờ thì ai cũng biết, giữ nước thì phải biết làm đáy." Hồi đó tao không hiểu. – Ông dúi mảnh giấy vô tay con. – Tên bả trong đó. Không biết còn sống không.
Ngạn mở mảnh giấy ra. Nét chữ nòng nọc của ông Hai Lù, chắc ông Vạc nhờ viết từ mấy chục năm trước. Ba chữ: Hà Thị Nung.
— Hết chương 10 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe