Chương 20: Nước đỏ về Doi Lở
Mùa nước năm sau, bà Bưởi là người đầu tiên ở xóm Doi Lở thấy nước đổi màu.
Năm ngoái, đầu mùa hạ, nước đỏ đã về một lần, đỏ thẫm, ba ngày rồi trong lại, và cả xóm tưởng đó là chuyện trời làm một lần rồi thôi.
Bà đang giặt đồ dưới bến, cái bến tạm bằng mấy tấm ván bắc ra từ chân đê. Sáng sớm tháng Tám, sương còn đọng trên mấy ngọn bần. Bà nhúng cái áo vô nước, giũ ra, và thấy cái áo trắng của con Mận dính một vệt hồng hồng. Bà tưởng con Mận làm đổ nước màu lên. Bà nhúng lại. Vệt hồng đậm hơn.
Bà ngồi im, nhìn xuống nước.
Rồi bà buông cái áo, để nó trôi đi, đứng dậy chạy lên đê, chạy không kịp mang dép. Bà la ơi ới tên chồng bằng một tiếng không thành chữ, y như cái đêm nửa căn nhà sụp xuống sông.
Ông Vạc chống gậy ra. Ông đứng trên đê, nhìn. Ông Hai Lù đứng cạnh ông, rồi ông Năm Chuột, rồi cả xóm. Không ai nói gì.
Nước sông Phù đỏ. Không đỏ thẫm như nước Rạch Khô sáng hôm đó. Đỏ nhạt, đỏ như nước vo gạo nếp than, đục như nước ruộng mới bừa. Nhưng đỏ. Nó chảy qua khúc quanh, đập vô mép doi, và Ngạn, đang ngồi dưới mép nước ở mũi doi, cảm thấy nó như cảm một bàn tay ấm đặt lên lưng.
Đó là chuyện của một năm sau ngày Đập Ngăn Long vỡ.
Người ta kể chuyện đó khắp dọc sông Phù, mỗi chỗ kể một kiểu. Ở Ba Cửa, người ta kể về hai mươi bảy chiếc ghe sơn đen nhà họ Lư chạy suốt đêm từ Cửa Bắc ra Cửa Sông, chở người già, chở trẻ con lên mấy ngọn đồi phía tây thành. Người ta kể về một thằng con buôn đứng trên mũi ghe la tới khản tiếng. Nước tới Ba Cửa lúc nửa đêm, chỉ còn một nửa con lũ, vẫn cuốn sạch chợ nổi, cuốn trôi Sân Bè ra tới tận khúc quanh dưới thành, cuốn sập dãy kho gạch đỏ ở Cửa Bắc. Mười một người chết. Ba chục vạn người còn sống.
Ở trấn Nghiêm Gia, người ta kể về tiếng mõ gõ suốt buổi chiều. Người ta kể về một thanh niên áo trắng đứng trên đầu cánh tả con đập đã vỡ, hai tay giơ cao một khối ngọc xanh, đứng như vậy từ chiều tới sáng. Cánh tả không sập. Nó vẫn đứng đó, bây giờ, thấp hơn trước mười hai trượng, chừa một cái lỗ hổng lớn ở giữa, như một hàm răng gãy. Lũ đi qua cái lỗ đó. Người trấn Nghiêm Gia lên núi kịp, trừ những người không chịu đi.
Không ai tìm thấy Nghiêm Lão Tổ.
Ở chân núi Nhạn Hồi, người ta kể về một đêm mười bốn làng nghe tiếng mõ, chạy lên gò, rồi sáng ra thấy nước đỏ trải khắp đồng mà không vô nhà nào. Người ta kể về một thằng điếc đứng giữa đồng, nước tới gối, và một con trâu già sừng gãy đứng cạnh nó. Bây giờ, ở đầu Rạch Khô, có người dựng một cái miếu nhỏ bằng tre. Trong miếu không có tượng, chỉ có một tấm ván gỗ, trên đó ai đó khắc một con chim nhạn bay ngang trên một cây sậy cong.
Mùa thu năm đó, Liên Minh Bách Tông họp ở Ba Cửa, trên một chiếc thuyền lớn đậu chỗ Sân Bè cũ. Người giữ Ấn Thủ Đập đứng lên nói. Người ta kể là nó nói ngắn. Đập Ngăn Long không đắp lại. Cánh tả giữ nguyên, cửa đáy mở quanh năm, mùa lũ mở hết. Hồ Trữ Linh để cạn dần. Ai muốn vét Linh Nê thì vét, cho tới khi hết. Nghiêm gia không bán nữa. Mười chín tông môn kêu la. Người giữ Ấn nói: Ta giữ Ấn mười hai năm. Mười hai năm nữa, ai muốn đắp lại thì lên Sân Bè mà thắng ta.
Tông chủ Chu Huyền Độ từ chức cuối năm đó, giao Quy Nhạn Tông cho một vị trưởng lão. Người ta nói ông về ở ẩn sau núi, không ai biết chỗ nào. Quy Nhạn Tông bán bớt ruộng lúa linh, cho bớt tạp dịch về quê. Năm nay, trên vách giảng đường ngoại môn, có người dán lại bản chép tay cuốn Thủy Lợi Kinh.
Tháng Chín, một chiếc ghe sơn xanh cập bến Doi Lở. Không phải ghe sơn đen. Trên mũi ghe không có cây bẹo treo hũ sứ. Có một cây bẹo treo một bó lúa.
Tín nhảy xuống, mặc áo dài nâu, đầu đội nón lá, má phính trở lại một chút.
– Nhà tao giờ buôn lúa, – Tín nói, trước khi Ngạn kịp hỏi. – Linh Nê hết rồi, kho sập rồi, cha tao ngồi tính sổ ba ngày, rồi nói: thằng điếc nó đổ đất đỏ xuống Hạ Phù thì năm sau Hạ Phù có lúa. Mua lúa. – Tín cười hô hố. – Ổng tính đúng. Dọc đường xuống đây, ruộng nào cũng có một lớp đất đỏ mỏng. Lúa năm nay trổ bông nặng cúi đầu.
Tín ở lại ba ngày. Ngày thứ hai, Tín đưa cho Ngạn một lá thư.
– Thằng Khải gởi. Nó không xuống được. Nó không rời cánh tả được trong mùa lũ. Nó nói cái trận còn nghe Ấn, mà phải có người đứng đó.
Ngạn mở thư. Chữ Khải vuông vức, sắc như khắc bằng kiếm. Chỉ có mấy dòng.
"Ông Thạch Cụt ở với ta. Ông dạy ta xuống hầm đập coi lõi. Còn nứt, nhưng đứng.
Ta nghe nói ngươi Thành Sông. Ta nghe nói ngươi không đi đâu được xa hơn chỗ nước sông Phù tới.
Sân Bè trôi mất rồi. Mười một năm nữa, Liên Minh đóng Sân Bè mới. Ngươi đứng trên nước được rồi. Ta sẽ đánh ngươi trên nước. Lần này không ai dặn ta đánh bên nào.
Ta vẫn còn nợ ngươi."
Ngạn gấp thư lại, cất vô ngực áo.
Sáng hôm đó ở đồng bãi Nhạn Hồi, nó tưởng mình không rời được mặt nước nữa. Phải mấy tháng sau nó mới biết rõ cái giá của Thành Sông. Khí của nó không còn ở trong người nó. Khí của nó ở trong sông. Nước sông Phù lên thì nó mạnh, mạnh như một con sông đang lũ. Nước ròng thì nó yếu, yếu như con kinh mùa khô. Nó đi được tới đâu nước sông Phù đi tới đó: ngược lên hẻm Đá Kẹp, xuôi xuống cửa biển, rẽ vô sông Mây lên tận cao nguyên. Đi xa hơn một bước, ra khỏi lưu vực, lên một ngọn núi mà nước không chảy tới, là khí trong người nó tắt dần, như ngọn đèn hết dầu.
Kiều Lão nói Tổ Cày Ra Biển. Sông nào rồi cũng ra biển. Ngạn đã đi xuống tận cửa biển một lần, đầu mùa xuân năm nay, đứng ở chỗ nước sông Phù gặp nước mặn. Tới đó, nó dừng lại. Nó đứng rất lâu, nhìn ra biển xanh thẳm, nhìn dải nước đỏ của sông Phù loang ra trên mặt biển, mỏng dần, nhạt dần, rồi mất.
Rồi nó quay về.
Cuối mùa xuân, nó ngược lên hẻm Đá Kẹp một lần.
Chỗ Đê Chặn năm xưa giờ là một cái cửa rộng hoác giữa hai vách đá. Nước sông Phù mùa xuân chia làm hai nhánh ở đó, một nhánh đi thẳng xuống Ba Cửa, một nhánh quẹo vô Lòng Sông Cũ. Ngạn lội dọc nhánh quẹo, nước tới ngực, tìm suốt một buổi sáng. Nó tìm thấy tảng đá ấn nằm nghiêng giữa lòng nhánh sông, to bằng cái nhà rường, nửa chìm nửa nổi. Nước chảy qua mặt đá, mỏng như một lớp lụa, và dưới lớp lụa đó, con chim nhạn vẫn sải cánh trên cây sậy cong, cái đuôi hơi lệch sang trái.
Nó không tìm thấy gì khác. Nó cũng không mong tìm thấy.
Nó leo lên ngồi trên tảng đá, hai chân thòng xuống nước, ngồi phía bên trái con chim nhạn, cho nó nằm ở bên tai còn nghe được. Nó kể chuyện Doi Lở. Kể chuyện mùa nước năm ngoái không mất một sải. Kể chuyện ông Thạch Cụt dạy Khải xuống hầm đập. Kể chuyện cái miếu tre ở đầu Rạch Khô. Kể tới trưa thì thôi.
Lúc xuôi về, nó ghé chân núi Nhạn Hồi, dắt theo con Nghé Già. Đê Sau không còn, cũng không còn ai giữ nó. Con trâu già đi theo nó dọc mép sông suốt mười mấy ngày, chậm rãi, gặm cỏ bờ, tối nằm nhai lại cạnh chỗ nó ngủ. Tới Doi Lở, con Mận chạy ra đầu đê, đứng nhìn con trâu sừng gãy một bên rất lâu, rồi quay vô chòi ôm một bó rơm ra.
Bây giờ con trâu cột ở gốc gòn bên nhà ông Hai Lù, chỗ con trâu cái nhà nó cột tám năm trước.
Ngày Tín đi, Ngạn với cha nó ra mũi doi.
Mũi doi không còn lở. Cả năm nay không mất một sải nào, và nước đỏ năm nay về theo mùa, như hồi ông nội kể. Nước đỏ chảy qua, không gặm bờ nữa. Ở bờ trong khúc quanh bên kia sông, bãi Cồn Tre đã nhô lên một dải đất mới, đỏ au, rộng chừng hai sải, cỏ năn đã mọc lún phún. Ở ngay dưới chân doi Lở, chỗ cái nền nhà cũ, có một vạt bùn đỏ mới bồi, mềm, ướt, nước rút để lại.
Ông Vạc chống gậy đứng nhìn vạt bùn đó rất lâu.
– Năm nay năm gì? – ông hỏi.
– Mậu Thìn, cha.
– Năm Thìn. – Ông gật đầu chậm, như người ta gật đầu khi nghe giá lúa. – Ông nội mày múc hũ đất đó cũng năm Thìn.
Ngạn rút cái mai gỗ lim trên vai xuống. Nó cầm bằng tay trái, cúi xuống, xắn một nhát vô vạt bùn mới. Lưỡi mai đen ngập vô bùn đỏ, nhấc lên một tảng, mịn như bột nếp, ướt, nặng, thơm mùi đất sau cơn mưa đầu mùa. Cán mai, sát chỗ cổ, con chim nhạn khắc nhỏ bằng móng tay sải cánh trên cây sậy cong, dính một vệt bùn đỏ.
Nó không chùi.
Chiều hôm đó, bà Bưởi mang cái hũ sành đen ra bến.
Bà mở nắp. Trong hũ chỉ còn một lớp đất mỏng dưới đáy, khô, bạc màu, như lớp tro trong cái lò nguội. Bà không đổ nó đi. Bà ngồi xổm xuống mép vạt bùn mới, lấy cái muỗng gáo dừa, múc từng muỗng bùn đỏ bỏ vô hũ, chậm rãi, cẩn thận, như người ta xới cơm cho khách. Con Mận mười sáu tuổi ngồi cạnh mẹ, cầm cái hũ cho vững.
Ngạn đứng dưới mép nước, nước tới gối, nhìn hai mẹ con. Sông Phù chảy qua sau lưng nó, đỏ, ấm, chở nặng, chảy chậm.
Lúc hũ đầy tới miệng, bà Bưởi đậy nắp lại, lấy tay áo chùi sạch mấy vệt bùn bên ngoài.
– Tết này, – bà nói, không ngẩng lên, – khỏi lấy đất thường mà trét.
— Hết —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe