Chương 9: Đắp bờ không lại sông
Bảng kỳ xét dán trên vách giảng đường ngoại môn, giấy hồng điều, chữ đen. Tên Lư Khả Tín nằm ở cột bên trái, cột "xuống núi", dòng thứ mười một.
Tín đứng đọc nó, tay cầm cái bánh bao đang ăn dở, đọc hai lần, rồi cắn thêm một miếng.
– Mười một. Năm nay mười bốn đứa xuống. Tao không phải đứa tệ nhất.
Tên Phùng Văn Ngạn không nằm trên tấm bảng đó. Nó nằm trên một tờ giấy vàng riêng, dán ở vách giảng đường nội môn: "Đắp Bờ sơ kỳ, mười tám tuổi. Thăng nội môn."
Ngạn không đi coi. Tín coi giùm, rồi về kể lại.
Buổi trưa, có một đệ tử áo lam xuống gọi Ngạn lên Quy Nhạn Điện. Tông chủ Chu muốn gặp.
Quy Nhạn Điện nằm trên đỉnh cao nhất của núi, mái lợp ngói men xanh, cột gỗ lim đen, sàn lát đá trắng. Ngạn đi chân đất vô, để lại trên đá trắng những dấu chân bùn. Tông chủ Chu ngồi sau một cái án thư dài, đang pha trà. Không có ai khác.
– Ngồi đi.
Ngạn ngồi. Tông chủ Chu rót cho nó một chén trà. Màu trà nâu nhạt, sóng sánh, hương thơm thoang thoảng mùi đất ướt. Trà pha với Linh Nê. Ngạn không cầm chén.
– Mười tám tuổi Đắp Bờ, từ một cái bình nước không gợn. – Tông chủ Chu cười, giọng hiền như ông đồ giảng sách. – Ta làm tông chủ gần năm chục năm, chưa thấy ai như vậy. Ta muốn nhận con làm đệ tử thân truyền. Ở dưới Đê Sau thì phí.
– Con cám ơn tông chủ. Con xin xuống núi.
Tông chủ Chu không ngạc nhiên. Ông nhấp một ngụm trà, đặt chén xuống, xoay xoay cái chén trên mặt án.
– Có người báo với ta rồi. Con lên tới Đê Chặn.
Ngạn không trả lời.
– Đó là chuyện hơn tám mươi năm trước, chuyện của người lớn. – Ông nói chậm. – Con có biết Quy Nhạn Tông nuôi bao nhiêu người không? Ba ngàn đệ tử, hai ngàn tạp dịch, cả chục làng dưới chân núi ăn lúa linh của tông môn. Lúa linh trồng bằng gì? Ruộng linh bón bằng gì? Đệ tử lên tầng bằng gì? Không có Linh Nê thì Quy Nhạn Tông còn được một phần ba. Ta không bênh ai. Ta chỉ nói cho con biết cái giá của mỗi muỗng trà.
– Con không uống trà, – Ngạn nói.
Tông chủ Chu nhìn nó một lúc. Rồi ông cười, lần này cái cười nhạt hơn.
– Được. Đệ tử Đắp Bờ muốn rời tông thì rời. Luật của Tổ Cày, không ai giữ người. Nhưng có một điều. Những gì con thấy trong Lòng Sông Cũ là chuyện của tông môn. Con đi đâu thì đi, đừng mang theo mà kể.
Ngạn đứng dậy, chắp tay, cúi chào. Nó đi ra, để lại trên sàn đá trắng thêm một hàng dấu chân bùn nữa.
Chiều hôm đó, Ngạn với Tín xuống núi bằng Dốc Nhạn. Lúc đi ngang khúc quanh có con mương đá, Ngạn dừng lại nhìn. Chỗ nó vá ba năm trước vẫn còn, rêu đã mọc xanh trên lớp bùn trét, nước chảy qua không rỉ một giọt.
– Mày định về nhà hả? – Tín hỏi.
– Ừ.
– Đi ghe ai? Mày còn bao nhiêu tiền?
Ngạn không có tiền. Ba năm, nó gởi về nhà gần hết.
– Theo tao lên Ba Cửa trước, – Tín nói. – Hai ngày ghe. Ghe nhà tao mười ngày nữa chạy xuống Vàm Sậy, mày đi theo, không tốn đồng nào. Với lại cha tao muốn gặp mày. Thằng nào làm thằng con ổng lỗ cả túi cuội thì ổng phải coi mặt.
Thành Ba Cửa nằm ở ngã ba, nơi sông Mây từ cao nguyên phía tây đổ vào sông Phù. Ba con sông, ba cái cửa: Cửa Bắc nhìn lên thượng nguồn, Cửa Tây nhìn lên sông Mây, Cửa Sông nhìn xuống hạ nguồn. Ghe vào thành phải đi qua một trong ba cửa, nộp thuế cửa, rồi mới được neo trong lòng chợ nổi.
Ngạn chưa thấy chỗ nào đông như vậy. Ghe đậu sát nhau thành từng dãy, từng dãy như những con đường bằng gỗ trôi trên nước. Người ta đi từ ghe này sang ghe kia bằng ván bắc ngang. Ghe nào cũng treo một cây bẹo cao vút, trên đầu cây bẹo treo thứ ghe đó bán: một trái bí, một bó mía, một nải chuối, một con cá khô. Tiếng rao lanh lảnh khắp mặt sông: hủ tiếu đây, chè bưởi đây, bánh tằm bì đây. Có ghe bán linh dược, treo trên cây bẹo một cái bình sứ nhỏ. Có ghe bán phù, treo một lá cờ vàng.
Và giữa chợ nổi, có một khối gỗ khổng lồ, vuông vức, rộng bằng ba cái sân đình, nổi trên mặt nước, neo bằng bốn sợi xích sắt to bằng bắp chân.
– Sân Bè, – Tín nói. – Mười hai năm một lần, Đại hội Bách Tông đánh ở đó. Bốn năm nữa là tới kỳ. Lúc đó cả chợ nổi dọn ra hết, ghe đậu kín bốn phía coi.
Nhà họ Lư ở phía Cửa Bắc, một dãy kho gạch đỏ dựng sát mép nước, có bến riêng. Ở đó, những chiếc ghe sơn đen, mũi vẽ mắt đỏ, đang bốc hàng. Những cái thùng gỗ nhỏ niêm sáp. Ngạn nhận ra chúng ngay. Cái mùi đất ướt nồng lên từ bến, nồng tới nỗi nó đưa tay lên nắm cái túi vải đen trên cổ.
Ông Lư Đắc Phú là một người đàn ông thấp, tròn, đầu hói, đeo cặp kính đồi mồi, nói giọng y như Tín nhưng chậm hơn một nhịp. Ông đang ngồi bên bàn tính, gõ lách cách. Ông không đứng dậy khi hai đứa bước vô, chỉ nhìn qua cặp kính.
– Thằng điếc giữ đê đây hả?
– Dạ.
– Một trăm mười bảy viên Cuội Linh, giá chợ Ba Cửa ba lạng bạc một viên, là ba trăm năm mươi mốt lạng. – Ông gõ bàn tính thêm hai cái. – Cộng ba năm Linh Nê tao gởi cho thằng Tín, sáu trăm lạng. Nó lên được tầng bảy. Mày thì lên Đắp Bờ.
Ngạn không biết nói gì. Ông Lư nhìn nó thêm một lúc, rồi cười khà khà, tháo kính ra lau.
– Vậy là cái túi cuội đó vẫn sinh lời, chỉ là không sinh vô sổ nhà tao. Ngồi xuống ăn cơm.
Mười ngày ở Ba Cửa, Ngạn theo Tín đi khắp kho nhà họ Lư. Nó thấy người ta khui thùng Linh Nê, cân từng lạng, chia vô hũ sứ, niêm sáp, dán giấy đỏ. Nó thấy sổ sách. Tín giải thích cho nó, giọng không còn vui như mọi khi. Nghiêm gia vét Linh Nê dưới đáy hồ Trữ Linh, mỗi năm chừng tám vạn cân. Họ không bán lẻ. Họ bán cho ba nhà buôn lớn ở Ba Cửa, nhà họ Lư là một. Ba nhà buôn chia ra bán cho các tông môn. Quy Nhạn Tông mua bốn phần mười. Cả sông Phù, từ Thượng Phù xuống Hạ Phù, có mười chín tông môn, môn nào cũng mua.
– Mỗi năm đáy hồ cao thêm một gang, – Tín nói. – Người ta nói hồ Trữ Linh còn vét được ba trăm năm nữa.
– Ba trăm năm, – Ngạn nhắc lại.
Ba trăm năm phù sa của sông Phù. Ba trăm năm đất đỏ không về Doi Lở.
Đêm cuối ở Ba Cửa, ông Lư ngồi uống rượu với hai đứa trên bến. Ông chỉ tay ra Sân Bè đang nổi lềnh bềnh dưới trăng.
– Mày biết sao Đại hội lại quan trọng không? Không phải vì danh tiếng. Vì cái Ấn. Ấn Thủ Đập. Người thắng Đại hội giữ Ấn mười hai năm. Người giữ Ấn quyết đập xả lúc nào, xả bao nhiêu, ai được vét Linh Nê. Luật của Liên Minh từ hồi đắp đập. Bảy kỳ rồi, bảy kỳ liền, Ấn nằm trong tay nhà họ Nghiêm. – Ông hớp một ngụm rượu. – Kỳ tới, thằng Khải đánh.
Ngạn nhìn ra Sân Bè. Nó không nói gì. Nhưng từ đêm đó, nó nhớ hai chữ: Thủ Đập.
Ghe nhà họ Lư xuôi sông, mười một ngày ngược thì bảy ngày xuôi. Ngạn về tới Doi Lở vào đầu tháng Năm, lúc mùa khô vừa dứt, nước sông Phù còn ròng.
Cái doi nhỏ hơn nó tưởng. Nó đứng trên đê nhìn xuống, mất một lúc lâu mới nhận ra chỗ nào là chỗ nào. Gốc me nơi cha nó nằm hôm lở nhà, giờ đứng ngay mép nước, rễ trồi ra ngoài như những ngón tay xương. Nhà ông Hai Lù đã dời lên đê. Cả xóm Doi Lở đã dời lên đê, những cái chòi lá nối nhau thành một hàng dài trên mặt đê đất, phía dưới là ruộng ông Hội đồng bạc trắng như tro.
Mẹ nó đang phơi đệm trước một cái chòi. Bà thấy nó, đứng sững lại, cái đệm cói tuột khỏi tay rơi xuống đất.
Cha nó chống gậy ra. Ông già đi nhiều. Tóc bạc gần hết. Cái chân trái đi cà nhắc, mỗi bước phải nhấc cả hông lên. Ông nhìn nó từ đầu tới chân, nhìn cái tai trái, nhìn cái áo lam nội môn nó chưa kịp thay.
– Tai mày sao vậy?
– Điếc rồi cha.
Ông Vạc gật đầu, như người ta gật đầu khi nghe giá lúa. Rồi ông quay vô chòi.
– Vô ăn cơm. Mận ơi, bắt thêm nồi cơm.
Con Mận mười một tuổi, cao vổng lên, đen nhẻm, tay chai vì đan đệm. Nó nhìn anh nó như nhìn người lạ, rồi chạy đi vo gạo.
Ngạn ở nhà tới giữa tháng Bảy, lúc nước bắt đầu lên, thì bắt tay vô làm.
Nó xuống doi, đi dọc mép bờ từ đầu này qua đầu kia, như cha nó dạy. Rồi nó cắm cái gậy tre làm mốc, đứng vào chỗ mép bờ lở nhiều nhất, nhắm mắt, đắp bờ. Không phải bờ đất. Bờ khí, như cái đêm ở cột tám, rải từng lớp, đầm từng lớp, nhưng lần này rải ra ngoài người mình, dọc theo mép đất, cắm sâu xuống lòng sông.
Mất bảy ngày. Bảy ngày, mỗi ngày từ sáng tới tối. Cả xóm ra coi. Ông Hai Lù đứng trên đê chống nạnh. Ông Năm Chuột mang điếu cày ra ngồi. Người ta thấy mặt nước sát mép doi đổi màu, như có một lớp kính mỏng màu nâu cắm xuống. Người ta thấy những con sóng đánh vô mép doi, đụng phải lớp kính đó, rồi trượt đi.
Tháng Tám, nước lên to. Nước sông Phù năm nay lên sớm, lên cao, vẫn trong vắt. Đêm nào cũng có tiếng đất lở ở đâu đó dọc hai bên bờ.
Doi Lở không mất một sải nào.
Cả xóm làm một mâm cúng. Ông Hai Lù rót rượu cho Ngạn, nói một câu dài cả trăm chữ. Mẹ nó khóc. Cha nó không nói gì, chỉ ngồi trên bậc chòi nhìn sông.
Cuối tháng Tám, có người từ xóm Bàu Sen chạy lên.
Bàu Sen nằm dưới Doi Lở chừng hai dặm, cũng bên bờ ngoài khúc quanh kế tiếp. Người chạy lên là một ông già, ống quần ướt sũng, mặt tái mét. Ông nói đêm qua Bàu Sen mất bốn mươi sải. Bốn mươi sải, trong một đêm. Năm cái nhà trôi. Một đứa nhỏ bị nước cuốn, sáng nay mới vớt được, còn sống mà tím ngắt.
– Mấy năm trước mỗi năm mất mười sải, – ông già nói, mắt nhìn trừng trừng vô Ngạn. – Năm nay bên này không mất, bên tui mất bốn chục. Người ta nói cậu đắp bờ trên này. Nước không ăn được bên này thì nó xuống ăn bên tui.
Ngạn đứng im. Không ai trong xóm Doi Lở nói gì.
Tối đó, nó ngồi trên bậc chòi cạnh cha nó. Hai cha con nhìn ra sông. Dưới ánh trăng, mặt nước trong vắt chảy xiết, lấp lánh như một tấm lụa, đẹp như trong tranh.
– Con tưởng học được phép đắp bờ là xong, – Ngạn nói.
Ông Vạc im một lúc lâu.
– Hồi xưa ông nội mày đắp bờ ruộng, đắp cả đời, đắp cao tới đâu nước cũng lên tới đó. Tao đắp bờ ba mươi năm. Bờ nào tao đắp cũng chắc. Mà cái doi mình vẫn đi. – Ông gõ cái gậy xuống bậc chòi. – Đắp bờ không lại sông đâu con. Mày chặn nó chỗ này, nó ăn chỗ kia. Nó đói thì nó ăn. Muốn nó thôi ăn, thì phải cho nó ăn no.
– Cho nó ăn cái gì?
Ông Vạc không trả lời. Ông chỉ quay đầu nhìn vô trong chòi, nơi cái hũ sành đen ông nội để lại đặt trên cái bàn thờ bằng ván.
— Hết chương 9 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe