Chương 14: Ông Thạch Cụt
Nước sông Phù lúc nửa đêm lạnh hơn Ngạn tưởng, và dưới đáy Sân Bè thì sáng.
Nó lặn từ mạn chiếc ghe nhỏ của nhà họ Lư, cách Sân Bè chừng ba chục sải, ngậm cái mai gỗ lim ngang miệng như con chó ngậm khúc xương. Người Tích Đầm nhịn thở được cả canh giờ, khí trong đầm đủ nuôi người mà không cần hơi ngoài. Nó bơi sát đáy sông, giữa những sợi rong dài, những gốc cây mục. Nước ở đây không trong bằng ở Doi Lở. Bốn ngàn chiếc ghe đậu quanh ngã ba, nước bẩn, nước gạo, nước rửa chén đổ xuống, làm nó đục đi một chút. Nhưng vẫn là nước đói.
Rồi nó ngước lên.
Dưới bụng Sân Bè là một tấm lưới sáng. Những viên gạch to bằng viên gạch thẻ, màu nâu đen, xếp khít nhau phủ kín cả mặt dưới khối gỗ khổng lồ. Mỗi viên phát ra một thứ ánh sáng mờ, nâu đục, giống hệt vũng sáng hiện trong hòn đá thử cảnh khi nó đặt tay lên. Giữa những viên gạch có những đường rãnh nhỏ chạy ngang dọc, chia mặt dưới Sân Bè thành từng ô vuông như ruộng bậc thang nhìn từ trên đỉnh Nhạn Hồi. Trong mỗi rãnh, có một thứ gì lấp lánh đang chảy. Khí. Khí của mấy chục trận đánh suốt năm ngày, thấm qua mặt gỗ, chảy xuống những ô gạch, theo rãnh dồn về bốn góc.
Ở bốn góc, bốn cái ống đồng to bằng thân cau cắm xuyên xuống nước, uốn cong, chạy ngầm dưới mặt sông về phía bắc.
Ngạn bơi theo một cái ống.
Nó dẫn tới bụng một chiếc ghe sơn đen đậu hàng thứ hai, khuất sau chiếc thuyền lớn của Nghiêm gia. Ống đồng chui vô lườn ghe qua một cái lỗ trét nhựa thông kín mít. Ngạn nổi lên sát mạn ghe, chỉ ló hai con mắt và cái mũi khỏi mặt nước, áp tai phải vô ván.
Bên trong có tiếng nước chảy vô một cái gì đó rỗng. Như rót nước vô lu.
Nó bám mạn ghe, nhích lên. Chiếc ghe có một cái cửa sổ nhỏ ở khoang dưới, sát mặt nước, để thông hơi. Nó nhìn vô. Khoang ghe chất đầy lu. Lu sành to bằng người ôm, xếp từng hàng, nắp trét sáp đỏ. Ống đồng chạy vô khoang, chia ra thành mấy chục ống nhỏ, mỗi ống cắm vô một cái lu. Ánh sáng nâu đục rỉ ra từ những kẽ nắp.
– Đừng có thò tay vô. Lu đó dính tay là rút khí trong người mày ra luôn.
Ngạn giật mình, suýt buông tay. Giọng nói ở ngay trên đầu nó.
Một ông già đang ngồi ở mép ghe, ngay trên cái cửa sổ, hai chân thòng xuống nước. Ông già gầy như que củi, tóc bạc lơ thơ, mặc áo vải xám. Tay phải ông cầm một cái cần câu tre. Tay áo trái của ông xắn lên, buộc túm lại ở ngay dưới vai. Không có tay trái.
– Ông...
– Lên đây. Đứng dưới đó tụi gác nó thấy bây giờ. – Ông già thả cái cần câu xuống ván, chìa bàn tay phải ra. – Lên.
Ngạn nắm lấy tay ông, leo lên mạn ghe. Ông già kéo nó ngồi xuống sau một đống dây thừng, rồi nhìn nó từ đầu tới chân. Nhìn cái tai trái. Nhìn cái mai gỗ lim nó vừa lấy khỏi miệng. Ông già cầm lấy cái mai, xoay cán lên, đưa sát mắt. Ngón tay cái ông miết lên hình con chim nhạn.
– Dấu thầy Kiều. – Ông già nói. Giọng ông khàn, run. – Gần chín mươi năm. Gần chín mươi năm tao mới thấy lại cái dấu này.
– Ông biết thầy con?
– Mày là đệ tử thầy Kiều? – Ông già ngẩng lên, đôi mắt đục ngầu như mắt cá ươn. – Thằng đào khoai ở Sân Bè là đệ tử thầy Kiều?
Ông kể. Ông kể bằng cái giọng của người đã giữ chuyện trong bụng quá lâu, giọng đứt đoạn, có lúc lạc đi, có lúc phải dừng lại thở.
Ông tên Thạch, người ta kêu ông Thạch Cụt. Một trăm mười hai tuổi, tu tới Khơi Mương tầng sáu thì dừng, cả đời làm thợ đá. Năm hai mươi lăm tuổi, ông theo thầy Kiều đắp Đập Ngăn Long. Ba năm ở hẻm Đá Kẹp, ông xếp đá. Đập xong, ông ở lại làm thợ giữ đập cho Nghiêm gia, hơn tám mươi năm, sống dưới chân đập, ở trấn Nghiêm Gia.
– Mười hai năm trước, – ông nói, – mùa hạ năm Ất Mão, tao đi tuần dưới hầm đập. Tao thấy nó. Một vết nứt. Chạy dọc theo lõi đập, từ móng lên, dài cỡ ba sải, rộng cỡ sợi chỉ. Có nước rỉ qua. Tao chạy lên báo. Lão Tổ xuống coi. Lão dùng khí đúc lại chỗ nứt, đúc kín. Lão nói không sao.
Ông im một lúc. Tay phải ông nắm chặt cái cần câu.
– Ba tháng sau, mưa thượng nguồn bốn mươi ngày. Nước hồ lên. Nửa đêm, vết nứt bung ra. Lần này nó dài mười sải. Tao đang ở dưới hầm. Một mảng đá lõi đập sụt xuống, kẹp tay trái tao. Người ta phải chặt tay tao mới lôi tao ra được. – Ông già nhìn xuống cái tay áo trống. – Lão Tổ không dám để nước dồn lên chỗ nứt. Lão mở hết ba cửa xả, nửa đêm, không báo ai. Nước xuống như núi đổ. Xóm bờ sông dưới chân đập trôi sạch. Hai trăm mười bốn người.
Ngạn nghe trong tai phải mình giọng Khải trên mặt đê Doi Lở. Mẹ ta đang ở nhà ngoại dưới xóm bờ sông. Ba ngày sau người ta mới tìm được.
– Rồi Lão Tổ nói với cả trấn là tại mưa, – ông Thạch Cụt nói tiếp. – Tại trời. Đập không sao. Đập chỉ xả nước cho khỏi tràn. Lão cho đúc lại chỗ nứt lần nữa, bắt hết thợ giữ đập thề không nói. Ai không thề thì đi. Tao thề. Tao cụt tay, già rồi, không thề thì đi đâu.
– Bây giờ vết nứt ra sao?
– Mỗi năm nó dài ra một chút. Đúc lại rồi nó lại nứt chỗ khác. Lõi đập mục rồi, con à. Lõi đó đắp bằng đất sét Thượng Phù, gần chín mươi năm ngâm nước, đè bốn mươi hai trượng đá lên trên. Năm ngoái tao xuống hầm lần cuối, tao áp tay vô vách. Tao nghe nó kêu. Như cái xương trâu gãy mà còn bắt đi cày.
Ông chỉ tay vô khoang ghe.
– Mấy cái lu này là khí của Đại hội. Bảy ngày đánh nhau, bốn mươi bảy đứa Tích Đầm, cộng hết khí văng ra, bằng ba chục năm một người tu. Chở hết lên đập. Lão Tổ sẽ đổ khí này vô lõi đập để đúc thêm chín trượng trên đỉnh, đúc luôn chỗ nứt. Lão tin như vậy là đập chắc như núi.
– Ông tin không?
Ông Thạch Cụt cười, cái cười móm mém không ra tiếng.
– Tao xếp đá cả đời. Khí đúc được đá, không đúc được cái chỗ nứt từ dưới móng. Mày chất thêm chín trượng đá lên lưng một con trâu gãy cẳng thì nó đứng vững hơn hả con?
Ngạn ngồi im. Gió đêm thổi qua ngã ba, mang theo mùi khói bếp, mùi hủ tiếu, mùi nước sông. Đâu đó trên hàng ghe xa có tiếng hò, tiếng đàn kìm. Bốn ngàn chiếc ghe, cả chục ngàn người, ngồi chờ coi đánh nhau.
– Sao Lão Tổ phải đợi Đại hội? – nó hỏi. – Lão có khí rồi. Lão nâng đập lúc nào chẳng được.
– Không được. – Ông Thạch Cụt nói ngay. – Cái đập có trận. Trận do thầy Kiều vẽ, khắc trong lõi đập, giữ cho đá với đất dính với nhau, điều khiển ba cửa xả. Trận đó không nghe Lão Tổ. Trận đó nghe cái Ấn. Hồi đắp đập, thầy Kiều vẽ trận như vậy, Liên Minh chịu như vậy. Ai giữ Ấn thì người đó mở trận. Không có Ấn thì Lão Tổ có đổ cả trăm lu khí vô cũng như đổ nước vô cát. – Ông nheo mắt nhìn Ngạn. – Bảy kỳ rồi, Ấn nằm trong tay người nhà họ Nghiêm. Kỳ này cũng vậy. Thằng cháu đích tôn mà thắng, Ấn vô tay nó, ngay chiều đó Lão Tổ bay lên đập. Lão bắt nó mở trận. Nó không cãi lão đâu.
– Nó có biết vết nứt không?
– Không. – Ông Thạch Cụt lắc đầu. – Nó không biết gì hết. Lão Tổ thương nó nhất. Lão không để nó biết cái gì làm nó đau.
Ngạn cúi nhìn cái mai trên đùi.
– Còn một chuyện nữa, – ông Thạch Cụt nói, hạ giọng thấp hơn. – Tháng Hai năm nay, có một người từ Nhạn Hồi lên đập. Một người áo lam, râu dài, mặt hiền như ông đồ. Tao bưng trà cho hai người họ. Tao thấy tờ lệnh nâng đập trải trên bàn. Có hai cái ấn son. Một cái của Nghiêm gia. Một cái của Quy Nhạn Tông.
– Tông chủ Chu.
– Linh Nê sau khi nâng đập, năm phần mười về Quy Nhạn. Tao nghe họ nói vậy. – Ông già nhổ một bãi xuống sông. – Bốn phần mười đã nuôi được ba ngàn đệ tử. Năm phần mười nuôi được bao nhiêu? Người ta nói ông đồ đó muốn mở thêm một ngọn núi.
Một ngọn đuốc lắc lư trên boong ghe phía mũi. Có tiếng bước chân. Tụi gác đi tuần.
– Đi, – ông Thạch Cụt nói. – Lặn đi. Đừng để ai thấy mày ở đây.
– Ông sao không đi khỏi đây? Ông biết hết mấy chuyện này.
– Đi đâu? – Ông già cầm cái cần câu lên, thả dây xuống nước, như chưa từng có chuyện gì. – Một trăm mười hai tuổi, một tay. Tao chỉ chờ coi có ai tới hỏi tao không. Gần chín mươi năm, mày là đứa đầu tiên.
Ngạn ngậm cái mai, trượt xuống nước không một tiếng động.
Nó bơi về chiếc ghe nhỏ của nhà họ Lư chậm hơn lúc đi. Không phải vì mệt. Vì đầu nó nặng. Nó đi qua dưới bụng Sân Bè thêm một lần, nhìn những ô gạch Linh Nê lấp lánh như ruộng bậc thang, nhìn những rãnh khí chảy về bốn góc. Ngày mai bán kết. Ngày kia chung kết. Thằng nào thắng thì cái Ấn sẽ mở trận của một cái đập có lõi đã nứt.
Nó nổi lên sát mạn ghe nhà họ Lư. Tín đang ngồi trên mũi ghe, ôm gối chờ nó, mặt căng thẳng.
Nhưng Tín không nhìn nó. Tín đang nhìn về phía đuôi ghe, nơi có cái mui che bằng lá dừa.
Ngạn leo lên. Nó nhìn theo hướng Tín nhìn.
Dưới mui lá dừa, có một người đang ngồi xếp bằng, đội một cái nón lá rách vành. Ống quần xắn tới gối, dính bùn khô. Hai bàn tay đặt trên đầu gối, móng tay gãy, đầu ngón chai sần, trầy xước như vừa bới qua một quả núi.
– Bốn năm, – Kiều Lão nói. Giọng ông khàn như tiếng sỏi lăn trong lòng suối, khàn hơn bốn năm trước. – Tới lúc rồi.
— Hết chương 14 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe