Chương 11: Làng Gốm Đỏ
– Cái lu này mày nặn ba ngày, nung một đêm, mà đổ nước vô là nó khóc.
Bà Nung gõ móng tay vô thành lu. Cái lu cao ngang đùi, màu đỏ gạch, đứng giữa sân phơi, chung quanh thành lu rịn ra những giọt nước li ti như mồ hôi, chảy thành vệt xuống tới đáy, thấm ướt một vòng đất dưới chân.
– Lu khóc là lu hỏng. Đập bỏ.
Ngạn nhìn cái lu. Đó là cái thứ mười bốn. Nó cầm cái chày gỗ lên, đập một nhát. Cái lu vỡ ra thành sáu mảnh, nước tràn ra sân, chảy xuống con dốc đất đỏ, đỏ như nước sông hồi xưa.
Đó là tháng thứ tư Ngạn ở làng Gốm Đỏ.
Đường lên đây dài hơn nó tưởng. Từ Doi Lở, nó đi ghe hàng ngược lên Ba Cửa, mất mười bốn ngày vì ghe chở nặng. Tín ra bến đón. Tín gầy đi, má không còn phính, mặc áo dài đen của người làm sổ, ngón tay giữa dính mực. Tín nói nó đã làm sổ cho kho nhà họ Lư được hơn nửa năm.
– Tao đếm Linh Nê, – Tín nói, giọng không vui không buồn. – Mỗi ngày cân bao nhiêu hũ, bán bao nhiêu, lời bao nhiêu. Nhà tao lời lắm mày. Năm nay lời gấp đôi năm ngoái.
Tín không hỏi nó lên cao nguyên làm gì. Tín chỉ đưa nó xuống một chiếc ghe nhỏ của nhà họ Lư chạy tuyến sông Mây, dặn ông lái chở nó tới tận bến Mây Đá, rồi dúi vô tay nó một gói bạc nhỏ.
– Đừng trả lại. Tao ghi sổ rồi. Ghi là cho vay. Lúc nào mày giàu thì trả.
Sông Mây khác sông Phù. Nó hẹp, xiết, đỏ ngầu, chảy giữa những vách đất đỏ dựng đứng. Ông lái nói sông Mây không có đập, mùa mưa nước đỏ như máu, mùa khô thì trong. Sáu ngày ngược sông, ghe phải kéo bằng dây qua bốn cái thác. Ngày thứ sáu, nước lặng lại, hai bên bờ mở ra một vùng đồi tròn trịa như lưng những con trâu nằm, đất đỏ au, cây thông mọc thưa. Mây trôi sát mặt đồi, trắng đục, đặc như bông gòn, bò qua những tảng đá xám nằm lăn lóc khắp nơi. Cao nguyên Mây Đá.
Làng Gốm Đỏ nằm trong một thung lũng nhỏ, có con suối chảy qua giữa. Mười mấy cái lò gốm đắp bằng đất, hình như cái tổ ong khổng lồ, nằm rải dọc suối. Khói lò bốc lên quyện với mây, không phân biệt được đâu là khói, đâu là mây.
Bà Hà Thị Nung còn sống.
Bà ngồi trước cái lò lớn nhất làng, đang chuốt một cái bình trên bàn xoay. Tóc bà trắng như bông, búi gọn, mặt nhăn như vỏ quả óc chó, nhưng hai bàn tay thì không có một vết nhăn nào. Hai bàn tay của một người ba mươi tuổi, mạnh, nhanh, ướt đẫm nước đất. Khi Ngạn đứng ở ngõ, bà không ngẩng lên, chỉ nói:
– Mày đứng đó làm mây nó tạt vô bình tao. Vô hay ra thì lẹ.
Ngạn bước vô, đưa mảnh giấy. Bà lau tay vô cái tạp dề, cầm lấy, nhìn ba chữ trên đó rất lâu. Rồi bà ngẩng lên nhìn nó.
– Thằng Vạc. Thằng nhỏ đào kinh, ăn hết nồi cơm nhà tao, còn hỏi xin thêm cơm cháy. – Bà cười, cái miệng móm. – Nó còn sống hả? Nó có con rồi hả?
– Dạ. Cha con bảo bà nói một câu: đắp bờ thì ai cũng biết, giữ nước thì phải biết làm đáy.
Bà Nung im lặng. Rồi bà chỉ vô cái bàn xoay.
– Ngồi xuống. Nặn cho tao một cái chén. Nặn được cái chén đựng nước không rỉ thì tao nói chuyện tiếp.
Ngạn nặn chén mất một tháng. Nặn lu mất thêm ba tháng nữa. Mười bốn cái lu khóc.
Trong bốn tháng đó, bà Nung dạy nó nhiều thứ mà không ai gọi là dạy. Bà dạy nó đi coi đất. Đất đỏ trên đồi thì nhẹ, xốp, nhiều sắt, nung lên đỏ đẹp mà không giữ nước. Đất xám dưới lòng suối thì dẻo, mịn, dính tay, nung lên chắc mà dễ nứt. Phải trộn. Trộn bao nhiêu thì không có công thức, phải bóp, phải ngửi, phải nếm. Bà dạy nó nhào đất bằng chân, nhào ba ngày cho hết bọt khí, vì một cái bọt khí nhỏ bằng hột tấm là một chỗ cho nước tìm đường ra. Bà dạy nó giữ lửa, đêm nào cũng ngồi canh lò, nghe tiếng củi nổ mà biết lửa đang cháy ở góc nào.
Bà cũng tu. Đắp Bờ hậu kỳ, đã một trăm năm mươi tuổi. Bà không nói, nhưng Ngạn nhìn ra. Có những đêm bà ngồi trước lò, lửa phập phồng theo nhịp thở của bà. Có những lần bà nhấc một cái lu nặng như nhấc cái giỏ rau.
Cái lu thứ mười lăm không khóc.
Ngạn đổ nước vô tới miệng, ngồi canh nó một ngày một đêm. Thành lu khô ráo. Sáng ra, bà Nung đi ngang, vỗ vô thành lu một cái, nghe tiếng ngân trong trẻo như tiếng chuông chùa nhỏ. Bà gật đầu.
Tối đó, bà mới nói chuyện tu.
Hai bà cháu ngồi trước lò, lửa đỏ hồng, mây lùa vô tận cửa. Bà Nung nhai một miếng thuốc rê.
– Mày muốn lên Tích Đầm.
– Dạ.
– Mày có biết vì sao người ta kẹt ở Đắp Bờ cả đời không? Tao kẹt một trăm năm.
Ngạn lắc đầu.
– Vì hai chuyện. – Bà giơ hai ngón tay. – Chuyện thứ nhất: đầm phải có đáy. Mày đào một cái ao trên cát thì nước đổ vô bao nhiêu thấm xuống bấy nhiêu. Ao phải có lớp sét dưới đáy, nện chặt, mới giữ nước. Đan điền người ta cũng vậy. Gom khí vô đó thì phải có cái đáy giữ nó lại. Người ta dùng cái gì làm đáy, mày biết không?
Ngạn nghĩ một lúc. Rồi nó hiểu. Nó hiểu và thấy lạnh sống lưng.
– Linh Nê.
– Linh Nê. – Bà Nung gật đầu. – Phù sa ngậm khí lâu năm, mịn như bột, dẻo như sét, nặng như chì. Không có thứ gì làm đáy đầm tốt hơn. Một hũ Linh Nê cỡ nắm tay là đủ một cái đáy. Mười chín tông môn trên sông Phù, đứa nào lên Tích Đầm cũng nhờ nó. Từ hơn tám mươi năm nay, Tích Đầm trên khắp cái lưu vực này đều xây trên đáy hồ Trữ Linh.
Ngạn nhớ Kiều Lão trong chòi, nói giọng như đọc tờ khai: Nghiêm gia trả công ta bằng Linh Nê, ta ăn nó mà lên Tích Đầm.
– Trước khi có cái đập thì sao bà?
– Thì khó. Người ta đi tìm đất. Đất nơi người ta sinh ra, đất mồ mả ông bà, đất lòng sông chỗ mình tắm hồi nhỏ. Đất nào mình có duyên thì nó ngậm khí của mình. Chậm hơn, dở hơn Linh Nê. Nhưng được. – Bà nhổ bã thuốc vô lò. – Tao lên Đắp Bờ năm bốn mươi tuổi, tìm đất làm đáy hai chục năm. Tìm được rồi.
– Vậy sao bà không lên Tích Đầm?
Bà Nung giơ hai bàn tay lên trước ánh lửa. Hai bàn tay trẻ trung, mạnh mẽ, những ngón tay thon dài, móng cắt sát.
– Chuyện thứ hai. Đầm phải có một phía kín. Mày đào ao cạnh con mương, mương chảy vô ao, ao lại chảy ra mương, thì nó là cái vũng, không phải cái đầm. Phải chặn một phía, chặn hẳn, không cho nước ra. Trong người cũng vậy. Chín con mương, muốn có đầm thì phải lấp vĩnh viễn một con. Lấp rồi thì khí không bao giờ chạy qua đó nữa. Chỗ đó trong người mày sẽ như một thửa ruộng không có nước: vẫn sống, nhưng không còn là của tu sĩ.
– Lấp con nào thì tùy mình?
– Tùy mình. Người ta hay lấp con yếu nhất. Nhưng con yếu nhất của tao là mạch tay phải. – Bà nắm hai bàn tay lại. – Tao là thợ gốm. Tay phải tao chuốt bình, nắn miệng lu. Khí chạy qua thì tay tao biết đất đang ở chỗ nào, ướt hay khô, dày hay mỏng. Lấp nó đi thì tay tao thành tay người thường. Tao sống bốn trăm năm làm gì, nếu tao không còn chuốt được cái bình cho ra hồn?
Ngạn im lặng. Lửa trong lò reo lên một tiếng.
– Một trăm năm tao ngồi đây, – bà Nung nói. – Không phải vì không làm được. Vì không muốn trả cái giá đó. Mày nhớ: mỗi lần lên cảnh có giá. Nhưng mình chọn trả cái gì. Không ai chọn giùm mình được.
Đêm đó, Ngạn nằm trên cái chõng tre trong chái lò, không ngủ.
Nó đếm lại những gì nó có. Một cái tai trái điếc. Chín con mương có bờ. Một túi vải đen đeo trên cổ, trong đó có một nắm phù sa năm Thìn, đất bồi nên cái doi nhà nó. Cái túi đó nó chưa từng dám mở ra coi, kể từ ngày mẹ buộc dây.
Nó lần tay lên ngực, nắm cái túi. Đất nơi người ta sinh ra. Đất nào mình có duyên thì nó ngậm khí của mình.
Gần ba năm sau đó, Ngạn ở lại làng Gốm Đỏ.
Nó nặn gốm, nung gốm, bán gốm. Mùa mưa nó theo người làng xuống sông Mây gánh đất sét. Mùa khô nó ngồi canh lò. Mỗi tháng nó viết một lá thư về nhà, gởi xuống ghe nhà họ Lư. Mỗi tháng Tín viết lại một lá, kể chuyện Ba Cửa, chuyện kho, chuyện giá Linh Nê. Thư Tín ngắn dần. Lá thư cuối năm thứ hai chỉ có ba dòng: "Thằng Khải lên Tích Đầm rồi, hai mươi mốt tuổi. Cả Ba Cửa đốt pháo. Cha tao tặng nó mười hũ Linh Nê thượng hạng."
Ngạn tập vận khí qua chín con mương, mỗi ngày, mỗi đêm, cho tới khi khí trong người nó dày lên, nặng lên, dồn ứ ở đan điền như nước dềnh trước một cái cửa cống chưa xây. Cuối năm thứ ba, bà Nung đặt tay lên bụng nó, rồi gật đầu.
– Đắp Bờ viên mãn. Bây giờ thì tới lượt mày chọn.
Ngạn nằm ngửa trên nền đất trong chái lò, nhìn lên mái tranh. Nó đã nghĩ về chuyện này suốt ba năm.
Chín con mương. Mạch Đầu Nguồn chạy xuống tay trái, mạch đầu tiên nó mở dưới Thác Ngược, mạch đã cướp mất cái tai trái của nó. Mạch Cuối Nguồn chạy dọc sống lưng xuống gót chân, mạch nó mở bằng túi cuội của Tín. Hai mạch chân. Hai mạch ngực. Một mạch bụng. Một mạch đầu. Và mạch tay phải, mạch Giữa Dòng, mở năm thứ hai ở Nhạn Hồi, giữa mùa đông, không có gì đặc biệt.
Tay phải là tay nó cầm mai. Từ năm tám tuổi, tay phải nó cầm cán mai của cha, rồi cán mai gỗ lim của Kiều Lão. Trên Đài Cối, nó dựng bờ xiên bằng tay phải. Dưới vũng Khí Tù ở cột sáu, nó đào rãnh bằng tay phải.
– Con lấp mạch tay phải, – nó nói.
Bà Nung đang cời lửa, dừng tay lại.
– Tay phải là tay cầm mai của mày.
– Dạ. – Ngạn giơ bàn tay trái lên, nhìn nó dưới ánh lửa. Bàn tay của một thằng thuận tay phải: vụng hơn, yếu hơn, ít chai hơn. – Nhưng tay trái là chỗ con mở mạch đầu tiên. Con đã trả một cái tai cho nó. Con giữ tay trái.
Bà Nung nhìn nó rất lâu. Rồi bà quay vô lò, cho thêm một bó củi.
– Đầu tháng Tư mây tan, trời trong. Tao sẽ đốt lò lớn cho mày.
— Hết chương 11 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe