Chương 6: Mười hai nghìn một suất
Đêm đó, Hằng ngồi bệt giữa phòng chia của cái bếp mới, trải một tờ giấy lịch cũ lên nền gạch, và tính tiền một hộp cơm.
Gạo một lạng rưỡi, mười ba nghìn một ký, hết hai nghìn. Món mặn bảy mươi gam thịt nạc vai, thịt chợ tám mươi lăm nghìn một ký, hết gần sáu nghìn. Rau xào với canh, rau của tổ Bàu Đưng mua cao hơn chợ một chút, hết một nghìn tám. Dầu ăn, nước mắm, hành tỏi, đường, bột ngọt, tám trăm. Ga với điện, bảy trăm. Hộp xốp, đũa, muỗng, túi, tám trăm. Tiền công cho chị Mến với một đứa phụ, chia đều ra hai trăm suất, một nghìn rưỡi. Xăng xe chở cơm vô xưởng, ba trăm.
Cô cộng lại. Mười ba nghìn chín trăm. Bán mười lăm nghìn thì lời một nghìn một hộp. Hai trăm hộp, hai trăm nghìn một ngày. Trừ tiền nhà, còn vừa đủ trả góp tiền công cho Duy, dư ra chẳng bao nhiêu.
Kiếp trước, cô cũng đã ngồi tính như vầy, năm hai nghìn mười sáu, với Kha và Hiển ngồi hai bên. Lúc đó con số cũng ra chừng mười bốn nghìn. Hiển cầm bút gạch đi dòng tám mươi lăm nghìn tiền thịt, viết vào bốn mươi lăm nghìn, rồi đẩy tờ giấy về phía cô, nói bằng cái giọng mềm như lụa: thịt thì để em lo. Cô đã nhìn con số mười một nghìn ở dòng cuối, và cô đã thấy mình giàu.
Mười hai nghìn của bà Trâm hôm nay, cô biết nó từ đâu ra.
– Chị không ngủ hả?
Duy đứng ở cửa hông, tay cầm cái đèn pin. Anh tới gắn nốt cái quạt hút trong bếp nấu, làm tới khuya vì ban ngày bận công trình khác. Anh nhìn tờ giấy lịch đầy số trên nền gạch.
– Mười hai nghìn thì có làm được không anh? – Hằng hỏi, không ngẩng lên.
Duy ngồi xuống bên cạnh cô, chiếu đèn pin lên tờ giấy. Anh đọc từng dòng, chậm, môi mấp máy như người đọc bản dự toán.
– Được. – Anh nói. – Nếu thịt bốn lăm nghìn.
– Thịt nạc vai bốn lăm nghìn một ký thì ở mô ra?
– Thịt đông lạnh nhập, gần hết hạn, bán xả. Hoặc thịt heo bệnh. Hoặc cả hai. – Duy tắt đèn pin. – Hồi tui còn làm công ty, căn tin công trình cũng nấu mười hai nghìn. Anh em ăn xong đi làm, chiều ngồi xổm sau lán ôm bụng.
Hằng gấp tờ giấy lại.
– Em không xuống mười hai được.
– Thì đừng xuống.
– Rứa thì mất hợp đồng.
Duy im một lúc.
– Chị Oanh là người răng?
Hằng nghĩ về chị Oanh. Người phụ nữ nhỏ thó, đeo kính, nói nhanh nghe chậm. Kiếp trước, chị đã giữ hợp đồng với công ty Phan Gia suốt chín năm, qua ba đời giám đốc nhân sự của công ty mẹ, qua bao nhiêu lần có bếp ăn khác chào giá rẻ hơn. Chị chưa bao giờ nói vì sao. Có một lần, ở bữa tất niên, chị uống hai ly rượu vang, nói với Hằng. Chị làm quản lý xưởng mười mấy năm, chị đếm được mấy đứa công nhân phải nghỉ việc vì đau dạ dày, vì gầy rộc, vì sinh con nhẹ cân. Chị đếm bằng tay được, Hằng ơi. Mà chị không muốn đếm thêm.
– Chị Oanh là người biết đếm. – Hằng nói.
Sáng hôm sau, cô vô xưởng may, không mang theo cái hũ thủy tinh nữa. Cô mang theo tờ giấy lịch đầy số đã chép sạch lại, và một tờ giấy khác, chỉ có bốn dòng.
Chị Oanh đọc tờ giấy tính tiền trước. Đọc xong, chị không nói gì, đẩy nó sang một bên. Rồi chị đọc tờ giấy bốn dòng.
Một: giá mười lăm nghìn một suất, không đổi trong ba tháng đầu.
Hai: bếp mở cửa cho đại diện công đoàn xưởng tới kiểm tra bất cứ lúc nào, không cần báo trước, kể cả lúc ba giờ sáng.
Ba: mỗi ngày lưu hai mẫu mỗi món. Một mẫu ở tủ lưu mẫu của bếp. Một mẫu niêm phong mang theo xe cơm, để ở tủ lạnh của xưởng, nút niêm do chủ bếp và đại diện công đoàn cùng thắt, cùng ký tên trên nhãn. Giữ hai mươi bốn giờ.
Bốn: rau ghi tên hộ trồng, ngày cắt. Thịt cá ghi tên sạp chợ, ngày mua. Ai hỏi cũng nói.
– Mẫu thứ hai để ở tủ của xưởng chị, – chị Oanh hỏi. – Để làm chi?
– Để nếu có chuyện, chị không phải tin em. – Hằng nói. – Chị mở tủ của chị ra mà coi.
Chị Oanh nhìn cô qua cặp kính một hồi. Rồi chị nhấc điện thoại bàn lên, bấm ba số.
– Sinh hả. Lên phòng chị chút.
Anh Sinh, chủ tịch công đoàn xưởng, là một người đàn ông bốn mươi lăm tuổi, gầy nhom, tóc muối tiêu, nguyên là thợ cắt. Anh đọc tờ giấy bốn dòng, đọc hai lần, rồi gãi đầu.
– Ba giờ sáng thiệt hả em?
– Dạ thiệt. Anh tới thì em mở cửa.
– Rứa còn bên bà Trâm, có chịu cho đi kiểm tra không?
Chị Oanh và Hằng cùng nhìn anh. Anh Sinh chớp mắt, như vừa nghe chính câu mình hỏi.
Sáng thứ Bảy tuần đó, năm giờ kém mười lăm, chị Oanh và anh Sinh đứng trước cửa quán cơm bà Trâm. Theo hợp đồng cũ, xưởng có quyền kiểm tra cơ sở cung cấp suất ăn, nhưng trong hai năm qua chưa ai dùng tới cái quyền đó. Hằng không đi theo. Cô ngồi ở quán nước mía đầu đường, cách đó hai trăm mét, cầm ly nước mía mà không uống.
Hai mươi phút sau, chị Oanh gọi cho cô.
– Em ở mô? Chị qua.
Chị Oanh ngồi xuống cái ghế nhựa đối diện cô, mặt tái. Anh Sinh đứng bên cạnh, hai tay đút túi áo khoác, môi mím lại.
– Bà Trâm không cho vô bếp, – chị Oanh nói. – Bà nói bếp đang dọn, sáng nay xưởng muốn kiểm tra thì hẹn giờ khác. Chị đứng ở cửa bếp, nhìn vô được chừng nửa phút. Có mấy cái thùng nhựa to để dưới đất, ngâm thịt, nước đỏ lừ, đầy tới miệng. Mấy cái thùng các tông để chồng lên nhau sau cánh cửa, chữ nước ngoài in trên đó, mà ngay chỗ in ngày tháng thì có dán một cái tem trắng đè lên.
– Em không chắc được cái chi hết, – Hằng nói. – Em chưa thấy.
– Chị biết. Chị cũng không chắc cái chi. – Chị Oanh tháo kính, bóp sống mũi. – Nhưng chị đã thấy bà ấy không cho chị vô. Mười hai nghìn một suất mà không cho người mua vô bếp.
Anh Sinh hắng giọng.
– Lúc tụi tui ra, có một chiếc xe trắng tới. Một anh mặc sơ mi xuống xe, chạy theo chị Oanh, nói xin lỗi, nói bà Trâm già rồi hay nóng tính, nói để anh ấy chở hai anh chị đi ăn sáng. – Anh ngừng lại, nhìn chị Oanh. – Rồi lúc chị Oanh lên xe máy, anh đó nhét vô giỏ xe một cái phong bì.
Chị Oanh mở túi xách, lấy ra một cái phong bì trắng dày cộp, không dán. Chị đặt nó lên bàn nước mía.
– Chị chưa mở. Chị không biết trong đó bao nhiêu. – Giọng chị bình thản tới lạ. – Mà chị cũng không cần biết. Ba năm trước, có một bếp ăn khác đưa chị cái phong bì y như vầy. Hai tháng sau xưởng có mười bốn đứa nhập viện.
Chị đứng dậy, cầm cái phong bì, đi ngược trở lại phía quán bà Trâm. Hằng nhìn theo. Chiếc xe trắng vẫn đỗ trước quán. Chị Oanh gõ vào cửa kính xe, đưa cái phong bì vào, nói một câu gì đó cô không nghe được. Rồi chị quay lưng đi thẳng, không ngoái lại.
Chiều thứ Hai, Hằng ký hợp đồng ba tháng với xưởng may số hai Công ty may Sông Hàn. Hai trăm suất một ngày, mười lăm nghìn một suất, bắt đầu từ ngày một tháng Tám năm hai nghìn mười bốn. Phụ lục hợp đồng là tờ giấy bốn dòng, có chữ ký của chị Oanh, anh Sinh, và cô.
Cô ký chậm. Từng nét. Chữ ký của cô có một cái móc nhỏ ở cuối chữ Hằng, giống cái lưỡi câu, ba cô dạy cô viết vậy từ năm lớp sáu. Ông nói chữ ký phải có một chỗ mà chỉ mình biết.
Tối đó, Duy chở cô ra quán chè đầu kiệt. Hai ly chè đậu đỏ nước cốt dừa, bảy nghìn một ly. Anh không hỏi gì về hợp đồng. Anh chỉ hỏi cái quạt hút trong bếp chạy có êm không. Cô nói êm. Anh gật đầu.
– Chị Hằng, – anh nói, lúc ly chè đã cạn. – Chị kêu tui là anh Duy được không. Tui ba mươi, lớn hơn chị bốn tuổi. Tui kêu chị bằng chị mấy tháng nay, kêu mãi nghe kỳ.
Hằng bật cười. Tiếng cười của cô làm mấy người ngồi bàn bên quay lại nhìn.
– Dạ. Rứa anh kêu em bằng em đi.
– Ừ. – Duy nói, rồi im, như người vừa làm xong một việc khó, gãi gãi gáy. – Em.
Bếp cần thêm người. Chị Mến nghỉ bán quán, chuyển về làm phụ bếp chính, đem theo đứa cháu gái mười tám tuổi tên Xíu, vừa học xong lớp mười hai, chưa kiếm được việc. Hai người phụ. Thiếu một người đứng bếp chính, người nấu được nồi canh hai trăm suất mà không mặn chỗ này nhạt chỗ kia, người canh lửa được chảo cá kho mà không cháy đáy.
Hằng dán một tờ giấy nhỏ ở cổng: Cần tuyển một đầu bếp nữ, có kinh nghiệm nấu suất ăn số lượng lớn.
Sáng thứ Năm, ngày ba mươi mốt tháng Bảy, một ngày trước khi xe cơm đầu tiên chạy, có người gõ cửa hông.
Hằng đang lau cái tủ lưu mẫu. Cô đi ra mở cửa.
Người đàn bà đứng ngoài trời nắng chừng hơn bốn mươi tuổi, người đậm, tóc búi thấp, mặc áo bà ba nâu, tay xách một cái giỏ nhựa đựng mấy con dao bọc giấy báo. Bà có một nốt ruồi nhỏ ở đuôi lông mày trái. Bà cười, hai tay chắp trước bụng.
– Dạ em chào chị chủ. Em tên Nhàn. Em thấy giấy dán ngoài cổng. Em đứng bếp ăn công nghiệp tám năm rồi chị.
Hằng đứng trong khung cửa, tay vẫn cầm cái khăn lau.
Cô biết cái nốt ruồi đó. Cô đã nhìn nó suốt bốn mươi phút, từ hàng ghế bị cáo, trong phiên tòa sơ thẩm ngày mười tám tháng Mười hai năm hai nghìn hai mươi lăm. Nốt ruồi khẽ giật lên mỗi khi người đàn bà này nói câu: dạ thưa tòa, chị Hằng dặn tôi cứ nhận gà của bên đó, chị nói có gì chị chịu.
— Hết chương 6 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe