Chương 5: Bếp không đi ngược
– Ổng nói em bỏ chồng vì tham vàng, – chị Mến nói, tay vẫn đảo chảo cá kho. – Ổng nói nhà bà Trâm nuôi em hai năm, tới lúc cần em ký giùm một cái giấy thì em ôm vàng bỏ đi.
Hằng đang thái hành, không ngẩng lên.
– Rồi chị tin không?
– Tin cái con khỉ. – Chị Mến tắt bếp. – Chị bán cơm đầu đường mười năm rồi, chị biết nhà bà Trâm ra sao. Mà ổng nói xong thì ổng mời chị lấy thịt bên kho ổng, giá rẻ hơn chợ hai chục một ký, giao tận nơi, nợ cuối tháng trả. Chị hỏi thịt ở mô ra, ổng nói thịt đông lạnh nhập, sạch lắm, có giấy kiểm dịch đầy đủ.
– Chị lấy không?
– Không. Thịt rẻ hơn chợ hai chục thì có ai bán lỗ cho mình mô. – Chị Mến chùi tay vào tạp dề. – Mà ổng hỏi kỹ về em lắm. Hỏi em làm cho chị ca mấy giờ, lương bao nhiêu, em có hay nói chuyện với ai, em có nói muốn làm cái chi không.
– Chị nói răng?
– Chị nói em ít nói. – Chị Mến nhìn cô. – Mà em định làm cái chi thiệt?
Hằng kể. Chị Mến nghe hết, rồi gật gù.
– Ừ. Làm đi. Có cần người phụ thì kêu chị.
Đầu tháng Năm, Hằng tìm được căn nhà. Một căn cấp bốn ở cuối kiệt ba mươi bảy đường Âu Cơ, mái ngói cũ, nền xi măng, có cái sân đất trước nhà rộng chừng ba chục mét vuông và một cái giếng khoan sau hè. Chủ nhà là hai ông bà già đã vô Sài Gòn ở với con, để lại cho đứa cháu cho thuê. Giá bốn triệu một tháng, đặt cọc ba tháng. Hằng đếm tiền xong thì trong túi còn hai mươi hai triệu, gồm cả ba chục triệu mạ gửi lên và tiền bán ba chỉ vàng.
Cô gọi cho Nghiêm Duy.
Anh tới vào một buổi chiều nắng gắt, vẫn cái mũ vải rộng vành, vẫn cái xe máy kêu như trâu ho. Anh đi một vòng quanh căn nhà, không nói gì. Gõ gõ lên tường. Ngó lên mái. Cúi xuống nhìn cái rãnh thoát nước sau hè. Rồi anh đứng giữa nhà, nhìn Hằng.
– Chị định làm chi ở đây?
– Bếp ăn. Nấu cơm hộp cho công nhân. Ban đầu hai trăm suất, sau lên năm trăm.
– Rứa thì phải đập.
– Đập cái chi?
Duy ngồi xổm xuống, lượm một cục gạch vụn, vạch lên nền xi măng.
– Cửa chính chị ở đây. Bếp sau ở đây. Chị nhận hàng ngoài cửa chính, đem ra sau bếp rửa, rồi nấu, rồi đem trở ra cửa chính giao. Đồ sống với đồ chín đi chung một đường, đụng nhau ở giữa nhà. – Anh vạch hai đường, chéo nhau thành chữ X. – Đoàn kiểm tra vô nhìn cái là đánh trượt.
Hằng ngồi xổm xuống bên cạnh anh. Cô lấy cục gạch từ tay anh, vạch tiếp.
– Rứa thì mở thêm một cửa bên hông, phía kiệt nhỏ. Hàng sống vô từ cửa hông, đi thẳng ra khu sơ chế ở sau hè, cạnh giếng. Sơ chế xong chuyển vô bếp nấu, chỗ ni. Nấu xong qua phòng chia, chỗ ni, là cái phòng ngủ cũ. Chia xong ra cửa chính giao. Đồ dơ, rác, vỏ hộp thì đi ra cửa sau, không quay vô nhà. Một chiều. Không đường mô đi ngược.
Duy nhìn cái hình cô vạch. Rồi anh nhìn cô.
– Chị học ở mô cái ni?
Hằng ngừng tay. Kiếp trước, cô học điều này vào năm hai nghìn mười bảy, khi cái bếp thứ ba của công ty bị đoàn kiểm tra lập biên bản vì đồ sống và đồ chín đi chung một hành lang. Cô học bằng tiền phạt.
– Em đọc trên mạng. – Cô nói.
– Ừ. – Duy nói, giọng như người không tin lắm nhưng không thấy cần hỏi thêm. – Mà chị đọc kỹ. Thêm cái ni nữa. – Anh vạch một ô nhỏ cạnh phòng chia. – Chỗ để tủ lưu mẫu. Không để chung với tủ đồ sống. Có khóa.
Hằng nhìn cái ô nhỏ đó một hồi lâu.
– Anh làm bao nhiêu?
Anh tính nhẩm, ngón tay đếm trên đầu gối.
– Mở cửa hông, xây vách ngăn, lát gạch men tới đầu người cho khu sơ chế với khu nấu, làm lại rãnh thoát nước có lưới chắn, gắn lưới chống côn trùng mấy cửa sổ, đi lại điện, gắn quạt hút. Vật tư với công, chừng ba mươi tám triệu.
– Em có hai mươi hai triệu. Mà em còn phải mua nồi, mua tủ.
Duy không nói gì. Anh đứng dậy, đi ra sau hè, đứng nhìn cái giếng. Hằng đi theo.
– Gạch men tui có mối bán hàng tồn kho, rẻ được một phần ba, khác màu chút nhưng không sao. – Anh nói, lưng vẫn quay về phía cô. – Cửa sắt cũ tui có hai bộ tháo ở công trình trước, sơn lại là xài được. Công thì chị trả trước một nửa, nửa còn lại trả làm ba tháng. Mỗi trưa chị nấu cho bốn anh em thợ một bữa cơm.
– Anh tin em trả được?
– Không. – Duy quay lại. – Tui tin cái hình chị vạch dưới đất. Người vạch được cái hình đó thì không bỏ chạy.
Đội thợ của Duy có bốn người, kể cả anh. Hai anh thợ hồ người Quảng Ngãi, một thằng phụ hồ mười tám tuổi tên Tửng. Họ làm từ sáu giờ sáng tới năm giờ chiều, nghỉ trưa một tiếng. Hằng vẫn đi làm cho chị Mến tới mười giờ, rồi về nấu cơm trưa cho thợ trên cái bếp ga tạm đặt ngoài sân. Canh chua cá nục, rau muống xào tỏi, trứng chiên, cà pháo. Bữa nào cũng hết sạch.
Một buổi trưa, mấy anh thợ hồ ra gốc cây ngủ, Duy ngồi lại với cô dưới mái hiên. Anh uống ly trà đá, nhìn vách ngăn mới tô.
– Chị biết vì sao tui nghỉ làm kỹ sư không?
– Bà Năm nói anh khó.
Duy cười, lần đầu tiên cô thấy anh cười. Nụ cười làm khuôn mặt sạm nắng của anh trẻ ra mấy tuổi.
– Khó thiệt. Năm hai nghìn mười một, tui giám sát một công trình nhà xưởng. Sàn tầng hai đổ bê tông, bên thi công bớt thép, đáng lẽ thép mười hai họ xài thép mười, khoảng cách đáng lẽ mười lăm phân họ giãn ra hai mươi. Tui không ký nghiệm thu. Trưởng phòng gọi lên, nói ký đi, chủ đầu tư quen biết, không có chuyện chi đâu. Tui không ký. Một tuần sau công ty đưa người khác xuống ký. Tui nộp đơn nghỉ.
– Rồi cái sàn đó răng?
– Vẫn đứng. – Duy nói. – Ba năm rồi vẫn đứng. Chắc nó đứng tới khi có người chất hàng nặng lên. Có khi nó đứng luôn, chẳng ai biết. Tui chỉ biết cái chữ ký trên đó không phải của tui.
Hằng không nói gì. Cô nghĩ tới bảy cái kẹp giấy màu đỏ trên bàn kính quỹ tín dụng. Cô nghĩ tới một tờ hợp đồng mua gà mang chữ ký của cô, ký vào một ngày cô đang nằm trên bàn mổ ruột thừa.
– Em hiểu. – Cô nói.
Duy nhìn cô. Anh không hỏi cô hiểu cái gì.
Giữa tháng Năm, Hằng đi gặp chị Thu Oanh.
Chị Tạ Thu Oanh là quản lý xưởng may số hai của Công ty may Sông Hàn, xưởng nằm sâu trong khu công nghiệp Hòa Khánh. Xưởng có hai trăm công nhân, gần hết là con gái từ các làng quê miền Trung. Chị Oanh ba mươi tám tuổi, người nhỏ, đeo kính, nói nhanh và nghe chậm. Kiếp trước, Hằng đã ngồi với chị bao nhiêu lần, uống bao nhiêu ly cà phê ở căn tin xưởng. Chị là người ký hợp đồng đầu tiên với công ty Phan Gia. Và chị cũng là người đã gọi điện cho cô lúc năm giờ sáng ngày mười một tháng Tư năm hai nghìn hai mươi lăm, giọng run, nói nhà máy chính có chuyện rồi em ơi.
Giờ chị Oanh nhìn cô qua cặp kính, không có vẻ gì là quen thân.
– Em là dâu bà Trâm?
– Dạ, đang ly hôn.
– À. – Chị Oanh gật đầu, như hiểu ra điều gì. – Rứa em tới kiếm chị làm chi?
– Hợp đồng cơm của xưởng với quán bà Trâm hết hạn cuối tháng Bảy. Em xin được nấu cho xưởng từ tháng Tám.
Chị Oanh tháo kính ra lau.
– Em có bếp chưa?
– Đang sửa. Cuối tháng Sáu xong.
– Có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm chưa? Công ty mẹ bắt buộc. Quán bà Trâm có giấy đó từ năm ngoái rồi.
– Dạ chưa. Em sẽ có trước tháng Tám.
– Em có bao nhiêu người?
– Hiện tại một. Em.
Chị Oanh đeo kính lại, nhìn cô một lúc lâu.
– Em nói chuyện thẳng ghê. – Chị nói. – Chị nói thẳng lại. Quán bà Trâm nấu cũng được, có bữa thịt hơi hôi, công nhân có than, nhưng chưa có chuyện chi lớn. Đổi nhà cung cấp là chị phải giải trình với công ty mẹ, phải làm lại hồ sơ, phải chịu trách nhiệm nếu có chuyện. Em cho chị một lý do.
Hằng mở cái túi xách, lấy ra một cái hũ thủy tinh nhỏ. Bên trong là hai miếng thịt kho đã đổi màu xám, nước kho đông lại thành thạch. Một sợi chỉ đỏ quấn quanh cổ hũ, thắt một cái nút nhỏ như hạt đậu dưới vành nắp. Trên nắp dán miếng băng keo giấy ghi ngày mười bảy tháng Ba.
– Đây là thịt kho quán bà Trâm nấu cho xưởng chị ngày mười bảy tháng Ba. Hôm đó tổ chở cơm mang về mấy hộp bỏ mứa. Em lưu lại một phần từ nồi, gửi ngăn đá nhà người quen tới giờ. – Cô đặt cái hũ lên bàn. – Em không nói thịt này bẩn. Em không có kết quả xét nghiệm. Em chỉ nói thịt này mua từ một kho đông lạnh, rẻ hơn giá chợ hai chục nghìn một ký, và không ai ở quán biết nó từ mô ra. Chị hỏi bà Trâm thử. Nếu bà trả lời được, chị cứ ký tiếp với bà.
Chị Oanh nhìn cái hũ. Rồi chị nhìn cái nút chỉ đỏ.
– Cái nút ni là chi?
– Nút niêm. Ai mở ra, thắt lại, là em biết.
Chị Oanh cầm cái hũ lên, xoay xoay. Lâu lắm, chị mới đặt nó xuống.
– Có giấy chứng nhận thì quay lại gặp chị.
Hồ sơ xin giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm mất của Hằng gần hai tháng. Giấy khám sức khỏe cho cô và chị Mến, người nhận lời về phụ bếp từ tháng Tám. Giấy xác nhận đã tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm, cô đi học hai buổi ở một hội trường ngoài trung tâm thành phố. Bản vẽ mặt bằng bếp một chiều, Duy vẽ tay trên giấy kẻ ô ly, đẹp như bản vẽ kỹ thuật. Hợp đồng thuê nhà. Hợp đồng mua rau với tổ trồng rau làng Bàu Đưng, mạ đứng tên đại diện, có chữ ký của năm hộ. Trong đó có chú Chín Lượm, người đã gãi đầu nói với Hằng qua điện thoại rằng ừ thì xịt xong chờ đủ bảy ngày, mà giá phải cao hơn chợ đó nghe con.
Ngày mười bốn tháng Bảy, đoàn thẩm định tới. Ba người, trưởng đoàn là một anh chừng bốn mươi tuổi tên Thọ, áo sơ mi trắng, kẹp hồ sơ dưới nách. Anh đi một vòng từ cửa hông nhận hàng, qua khu sơ chế, bếp nấu, phòng chia, ra cửa chính. Anh mở tủ lạnh, nhìn nhiệt độ. Anh mở tủ lưu mẫu, thấy bên trong mấy cái hộp inox nhỏ có nắp, mỗi hộp có một sợi chỉ đỏ quấn quanh, một cái nút nhỏ dưới vành nắp.
– Chưa nấu mà đã có mẫu?
– Dạ, mấy món nấu thử cho thợ ăn trưa. Em tập cho quen tay.
Anh Thọ gật đầu, viết gì đó vào biểu mẫu. Lúc ra về, anh nói một câu, không rõ khen hay chê.
– Làm như chị thì cực. Mà cực trước thì đỡ cực sau.
Một tuần sau, giấy chứng nhận về. Hằng cầm tờ giấy có quốc huy, có con dấu đỏ, đứng giữa cái bếp đã sạch bóng, gạch men khác màu nhưng thẳng hàng tăm tắp. Duy đứng ở cửa hông, tay đút túi quần, nhìn cô.
– Giờ chị đi kiếm khách đi.
– Em có khách rồi.
Điện thoại cô reo. Số của chị Thu Oanh.
– Hằng hả. – Giọng chị Oanh vội vã, phía sau có tiếng máy may rào rào. – Chị nói em biết trước, để em khỏi tính sai. Sáng nay bà Trâm với một anh tên Hiển vô gặp chị. Bên đó xin gia hạn hợp đồng ba tháng, và hạ giá từ mười lăm nghìn xuống mười hai nghìn một suất. Mười hai nghìn, em hiểu không? Công ty mẹ mà nghe con số ni là không ai cản được.
— Hết chương 5 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe