Chương 4: Mười hai mét vuông ở Hòa Khánh Bắc
Cái phòng trọ có mười hai mét vuông, giá bảy trăm nghìn một tháng, và trận mưa đầu mùa đã chảy thành một vệt nâu dài từ góc trần xuống tới đầu giường.
– Mái tôn ni lủng ba chỗ, – người đàn ông đứng trên thang nói vọng xuống. – Mà lủng không đáng sợ. Đáng sợ là cái ổ điện chị gắn ngay dưới chỗ dột đó.
Hằng ngẩng lên. Người đàn ông chừng ba mươi, áo thun xám bạc màu, quần kaki xắn tới gối, đội cái mũ vải rộng vành. Anh ta đang cạy một tấm tôn rỉ bằng cái xà beng nhỏ, động tác gọn như người ta lột vỏ chuối.
– Ổ điện đó chủ nhà gắn chớ tui mô có gắn.
– Thì tui nói chị biết để chị đừng cắm nồi cơm vô đó. – Anh ta leo xuống mấy bậc thang, chỉ tay. – Nước chảy theo dây xuống, dây ni là dây đôi loại rẻ, vỏ bọc nứt hết rồi. Mưa lớn một trận, chị cắm nồi cơm, rứa là nồi cơm nấu chị.
Bà Năm chủ nhà đứng dưới sân, đang phơi đồ, nghe vậy thì chu mỏ.
– Duy ơi là Duy, mi đừng hù khách của tau. Phòng ni tau cho thuê sáu năm rồi chưa có ai bị răng.
– Dạ, chưa có ai bị răng thì chưa có ai bị răng. – Người tên Duy nói, không cãi. – Để con thay luôn đoạn dây với cái ổ, bà Năm tính thêm cho con một trăm rưỡi tiền vật tư thôi.
Bà Năm làu bàu, nhưng gật. Duy đi ra cái xe máy cũ đậu ngoài cổng, mở thùng đồ nghề buộc sau yên, lấy ra một cuộn dây điện còn nguyên tem.
Hằng đứng nhìn anh ta làm. Cô để ý anh ta tháo cầu dao trước rồi mới đụng vào dây, dùng bút thử điện kiểm hai lần, quấn băng keo cách điện thành ba lớp. Cái ổ mới anh gắn cao hơn chỗ cũ chừng một gang tay. Không hỏi ai. Không giải thích. Làm xong, anh ta cắm thử cái quạt bàn của cô vào, quạt chạy, anh ta gật đầu một cái, như người vừa đóng xong một cái đinh.
– Cảm ơn anh. – Hằng nói.
– Không có chi. Chị ở một mình hả?
– Dạ.
– Rứa thì tối khóa cửa cho kỹ. Dãy trọ ni gần khu công nghiệp, người đi ca đêm về lộn phòng hoài.
Anh ta gom đồ nghề, leo lên xe, đề mấy lần mới nổ. Cái xe kêu như con trâu già ho. Hằng nhìn theo, rồi quay lại nhìn cái ổ điện mới gắn, sạch trơn, cao hơn đầu giường một gang tay.
Ở kiếp trước, cô đã thuê thợ để xây mười bốn cái bếp ăn công nghiệp. Cô đã làm việc với không biết bao nhiêu nhà thầu, kỹ sư, đội thợ. Cô biết phân biệt người thợ làm cho xong với người thợ làm cho đúng. Người thợ làm cho đúng thường không giàu.
Cô hỏi bà Năm tên đầy đủ của anh thợ.
– Thằng Nghiêm Duy. Nó nhận sửa nhà, sửa điện nước, xây tô lặt vặt. – Bà Năm nói, giũ cái áo sơ mi phơi lên dây. – Nghe nói hồi trước làm kỹ sư cho công ty xây dựng lớn lắm, rồi không biết răng nghỉ. Hiền mà khó. Khó lắm. Giá cả thì không bớt một đồng.
Hằng mỉm cười, ghi cái tên đó vào trí nhớ.
Mấy tuần sau đó, cô làm ba việc.
Việc thứ nhất là chuộc vàng. Cô đi gặp chị Hai Mến, người bán cơm bình dân ở đầu đường Âu Cơ, cách quán bà Trâm ba trăm mét. Chị Mến bốn mươi lăm tuổi, góa chồng, có cái quán nhỏ năm cái bàn, nấu ăn mặn mà nhưng thật thà. Hồi Hằng còn làm dâu, mấy bữa dư rau, cô hay đem cho chị mấy bó. Chị Mến nghe cô nói xong, không hỏi han gì nhiều, vô nhà lấy ra mười hai triệu, gói trong tờ báo cũ.
– Em cầm đi. Trả được thì trả, chưa được thì thôi. – Chị Mến nói. – Mà nói thiệt, chị cũng đang cần người phụ bếp. Em làm cho chị vài tháng, chị trả ba triệu, bao cơm trưa.
– Dạ, em làm.
Cô chuộc được năm chỉ vàng và đôi bông tai ở tiệm cầm đồ trên đường Nguyễn Lương Bằng, trả thêm tiền lãi hai tháng. Ông chủ tiệm cầm đồ đeo kính lão, đọc tên trên biên nhận rồi nhìn cô, hỏi cô có phải người nhà bà Trâm không. Cô nói phải. Ông không hỏi gì thêm.
Cô bán hai chỉ ở tiệm vàng gần chợ Hòa Khánh, trả lại chị Mến hơn một nửa, phần còn lại xin chị trừ dần vào tiền công. Ba chỉ còn lại với đôi bông, cô gói vào khăn mùi xoa của mạ, giấu dưới đáy cái hộp kim chỉ.
Việc thứ hai là nộp đơn ly hôn. Sáng thứ Tư, ngày hai tháng Tư, cô mặc cái áo sơ mi trắng, đi xe buýt lên tòa án. Đơn đơn phương, vì Kha không chịu ký thuận tình. Anh gọi cho cô ba lần trong tuần, lần đầu năn nỉ, lần hai giận, lần ba say, nói cô có thằng khác. Lần thứ ba, Hằng nghe hết rồi nói:
– Anh Kha. Em không có ai hết. Em chỉ không muốn ký thêm cái chi với nhà mình nữa thôi.
– Em ký một lần thôi mà làm như…
– Em không ký lần nào hết. Anh nhớ chưa? Em không ký.
Cô cúp máy. Cô ngồi trên mép giường trong căn phòng mười hai mét vuông, nhìn cái ổ điện mới. Kha không phải người xấu. Cô biết vậy, ở kiếp này cũng như kiếp trước. Kha chỉ là người luôn đứng về phía bên nào nói to hơn. Và trong cái nhà đó, người nói to nhất không bao giờ là cô.
Việc thứ ba là về quê.
Sáng thứ Bảy, cô bắt xe khách về làng rau Bàu Đưng. Xe chạy khỏi thành phố, qua những cánh đồng lúa tháng Tư đang ngậm sữa, xanh mượt như ai trải một tấm thảm. Gần trưa, xe thả cô ở ngã ba chợ. Cô đi bộ vào làng, men theo bờ đê sông Thu Bồn. Mùi bùn non, mùi phân chuồng ủ, mùi rau thơm. Dưới bãi bồi, từng luống rau xanh mướt chạy dài ra tới mép nước, rau muống, cải xanh, mồng tơi, húng quế, tía tô, ngò. Mấy cái nón lá nhấp nhô giữa luống.
Mạ cô đang ngồi xổm ở luống cải, nhổ cỏ. Thấy cô, bà không đứng dậy liền, chỉ ngẩng lên, gật đầu.
– Về rồi hả. Đói không?
– Dạ đói.
– Có canh chua cá linh với cà pháo.
Chiều đó, hai mẹ con ngồi ở hiên nhà, lặt rau muống để mai bó đem ra chợ. Mạ lặt nhanh không cần nhìn, ngọn rau gãy cái tách đều đều như tiếng đồng hồ. Hằng kể cho mạ nghe chuyện cô định làm. Một cái bếp ăn nhỏ, nấu cơm hộp cho công nhân. Không phải quán cơm. Bếp ăn. Nấu theo hợp đồng, giao theo giờ, có giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Rau lấy từ làng mình, từ mấy nhà mình biết mặt, trồng ra sao mình biết, xịt thuốc ngày nào mình biết.
– Con biết nấu, – cô nói. – Con biết người ta cần chi. Công nhân không cần ăn ngon như nhà hàng. Người ta cần ăn no, ăn sạch, ăn đúng giờ, và không bị đau bụng giữa ca.
– Rau làng mình thì nhà mô cũng xịt thuốc, – mạ nói. – Không xịt thì sâu ăn hết.
– Con biết. Con không cấm xịt. Con chỉ cần xịt đúng thuốc, xịt xong đợi đủ ngày mới cắt. Ai làm được thì con lấy giá cao hơn chợ một chút, mua đều mỗi ngày, không ép giá.
Mạ ngẩng lên, nhìn về phía cuối bãi. Một người đàn ông lưng trần đang đeo bình xịt trên vai, đi dọc luống cải. Sương thuốc bay lên trong nắng chiều thành một màn trắng mỏng.
– Chú Chín Lượm đó. Mai chú cắt luống cải đó đi bán.
– Mai cắt mà chiều ni xịt?
– Ừ. Ai cũng làm vậy. Xịt cho rau xanh mướt, bán được giá.
Hằng nhìn cái màn thuốc trắng bay qua luống cải, bay ra mép sông. Cô nghĩ tới những hộp cơm ở xưởng may, những cô công nhân mười chín, hai mươi tuổi ngồi ăn trên sàn nhà xưởng vì không đủ bàn. Kiếp trước, rau của cô cũng từ làng này. Cô cũng đã thấy những màn thuốc trắng. Và cô đã tự nhủ: nấu chín thì không sao.
– Mạ, – cô nói. – Mạ thắt lại cho con coi cái nút lạt bánh tét.
Mạ cô nhìn cô một cái lạ lùng.
– Con thắt được mà.
– Con thắt được. Nhưng con muốn coi mạ thắt.
Mạ đứng dậy, đi vào nhà, lấy ra mấy sợi lạt tre phơi khô treo trên vách bếp, đem ngâm vào chậu nước cho mềm. Rồi bà lấy một bó rau muống vừa lặt, quấn sợi lạt quanh. Hằng nhìn hai bàn tay nứt nẻ của mạ. Vòng một quanh bó rau. Vòng hai, vắt chéo qua vòng một. Đầu lạt luồn ngược vào dưới vòng hai, không phải từ ngoài vô mà từ trong ra. Rồi bà kéo đầu kia. Cái nút co lại, tụt vào sát thân bó rau, gọn như một con mắt nhắm.
– Rứa thôi. – Mạ nói. – Thắt kiểu ni thì chặt. Mà ai mở ra, thắt lại, là không giống. Người ta quen thắt nút kép, hai vòng chồng lên nhau, nhìn là biết liền. Hồi con nhỏ, con mở bánh tét ăn vụng, rồi thắt lại nút kép, mạ biết liền.
– Rứa răng hồi đó mạ không đánh con?
– Đánh làm chi. Ăn cũng ăn rồi. – Mạ cười, lần đầu tiên trong ngày. – Mạ chỉ muốn con biết là mạ biết.
Hằng cầm bó rau, mân mê cái nút. Cô thử gỡ ra, rồi thắt lại. Lần thứ nhất, cái nút hơi lỏng. Lần thứ hai, khít. Lần thứ ba, cô thắt mà không cần nhìn.
Tối đó, sau khi tắm rửa, mạ cô ngồi ở bàn thờ ba, lấy từ trong ngăn kéo ra một cái phong bì giấy dầu cũ. Bà đặt nó trước mặt Hằng.
– Sổ đỏ đất nhà mình. Năm sào bãi với cái nền nhà. Con cầm lên thành phố, đem thế ngân hàng, mượn được mấy trăm thì mượn, mà làm cái bếp cho đàng hoàng.
Hằng nhìn cái phong bì. Cô biết cảm giác của tờ giấy trong đó, cái màu hồng nhạt, cái con dấu đỏ. Ba cô đã bán ba sào trong đó để trả nợ cho người ông ký bảo lãnh. Năm sào còn lại là tất cả những gì mạ có.
Cô đẩy cái phong bì trở lại về phía mạ.
– Dạ không mạ. Con không thế cái chi hết. Con làm nhỏ, lời thì làm tiếp, lỗ thì con chịu một mình. Mạ giữ đất. Đất ni là chỗ mai mốt con về.
– Rứa con lấy chi mà làm?
– Con có ba chỉ vàng. Mạ còn cái sổ tiết kiệm ba chục triệu thì mạ cho con mượn, con viết giấy cho mạ. Đủ thuê một cái nhà nhỏ, sửa bếp, mua nồi niêu. Còn khách thì con tự đi kiếm.
Mạ cô im lặng một lúc lâu. Rồi bà cất cái phong bì vào ngăn kéo, khóa lại, đưa cho cô cái chìa khóa.
– Thôi. Chìa khóa thì con giữ. Lỡ mạ đau ốm, có cái chi gấp, con biết chỗ.
Sáng Chủ nhật, Hằng về lại thành phố với một giỏ rau lang và lời hứa của mạ: thứ Hai mạ ra bưu điện rút sổ tiết kiệm ba chục triệu, gửi theo xe khách lên cho con. Trong túi áo, cô có một nắm lạt tre khô mạ bó sẵn, và cái chìa khóa ngăn kéo bàn thờ ba.
Xe tới Hòa Khánh lúc chiều muộn. Cô đi bộ về dãy trọ. Bà Năm đang ngồi ở sạp nước trước cổng, thấy cô thì vẫy vẫy.
– Hằng. Hồi trưa có người tới kiếm mi đó.
– Ai vậy bà?
– Một ông chạy cái xe hơi trắng. Ăn mặc lịch sự lắm. Ổng nói ổng là anh họ bên chồng mi, hỏi mi ở phòng mô, mi đi làm ở mô, mi có thiếu thốn chi không. – Bà Năm hạ giọng, nghiêng người tới. – Ổng còn hỏi tau phòng mi thuê bao nhiêu, ký hợp đồng mấy tháng, rồi đưa tau năm trăm nghìn, nói gửi trả trước tiền phòng tháng sau cho mi. Tau không lấy. Tau nói tiền phòng thì người thuê trả, ông bà con chi cũng không trả thế được.
Hằng đứng lặng trước cổng.
– Rồi ổng nói chi nữa không bà?
– Ổng cười. Ổng nói bà Năm nói đúng. Rồi ổng đi qua quán con Mến đầu đường Âu Cơ, tau thấy ổng ngồi đó uống ly cà phê, nói chuyện với con Mến cả tiếng đồng hồ.
— Hết chương 4 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe