Chương 8: Bát cơm chưa úp
Bộ xương nằm trên mặt bàn thép của phòng giám định, xếp theo đúng hình dáng một con người, và nó nhỏ hơn Doãn tưởng.
– Một mét sáu mươi, cộng trừ ba phân, – Duệ nói. – Nam giới. Mười tám tới hai mươi hai tuổi. Răng tốt, có một cái răng khểnh hàm trên bên phải mọc lệch ra ngoài.
Doãn nhớ tới tấm ảnh trong khung nhựa đỏ trên tủ thờ nhà bà Nhự. Một thằng con trai cười toe, răng khểnh.
Duệ cầm một cái que gỗ, chỉ vào xương cẳng tay trái.
– Chỗ ni có vết gãy cũ đã liền, liền lệch một chút, can xương to. Gãy từ hồi nhỏ, chừng tám mười tuổi, bó bột không khéo. – Que gỗ di xuống xương đùi trái. – Còn chỗ ni thì gãy mới. Gãy ngang thân xương, đầu gãy sắc, không có dấu hiệu liền. Gãy lúc còn sống, hoặc ngay quanh lúc chết. Lực rất mạnh. Kiểu bị một vật nặng đập vào, hoặc bị kẹp giữa hai vật nặng.
– Như một con tàu lật?
– Có thể.
Chị kéo một cái khay inox lại gần. Trong khay là hai thanh gỗ dẹt, mỗi thanh dài chừng năm mươi phân, rộng ba ngón tay, đen sẫm và mủn ở hai đầu. Quấn quanh hai thanh gỗ là những dải vải màu cam đã mục, có chỗ còn nguyên nút buộc.
– Hai thanh ni nằm áp hai bên đùi trái. Có người đã nẹp cái chân gãy. Dùng ván sạp tàu, kiểu ván lót sàn khoang. Buộc bằng vải áo phao xé ra thành dải. Người nẹp biết làm, nẹp đúng chỗ, một thanh trong, một thanh ngoài, buộc ba nút trên dưới chỗ gãy.
– Người biết sơ cứu.
– Người biết sơ cứu, hoặc người đi biển lâu năm. – Duệ cầm cái kính lúp lên, soi vào một nút buộc. – Nút này lạ. Tôi làm pháp y hai mươi lăm năm, tôi thấy nhiều kiểu nút người ta buộc tay buộc chân xác chết, nút dây điện, nút dây thừng. Cái này tôi chưa thấy. Một cái nút vòng rồi có thêm một vòng vắt ngang khoá cổ. Tôi chụp ảnh rồi, gửi anh sau.
– Người này chết vì gì?
Duệ đặt kính lúp xuống.
– Tôi không biết. Hộp sọ nguyên, không vết nứt. Xương sườn nguyên. Xương móng nguyên. Không có vết dao chém trên bất kỳ cái xương nào. – Chị nhìn bộ xương. – Một người gãy kín xương đùi, nằm ngoài trời lạnh, không được cứu chữa, thì có thể chết trong một hai ngày, vì mất máu trong, vì lạnh, vì sốc. Có thể người ta chôn một người đã chết vì vết thương. Cũng có thể người ta làm cho người đó chết theo cách không để lại dấu trên xương. Hai mươi năm rồi anh Doãn, xương chỉ nói được tới đó.
Doãn đứng nhìn hai thanh ván sạp rất lâu.
– Người nẹp chân là người muốn cứu nó.
– Hoặc người muốn cõng nó đi được, – Duệ nói. – Chân gãy không nẹp thì không khiêng được, người bị khiêng sẽ hét.
Chiều hôm đó, Doãn và Mơn đến nhà bà Nhự.
Anh đã nghĩ suốt đường đi xem nên nói thế nào. Rồi khi ngồi xuống cái ghế đẩu trước hiên, nhìn bà già nhai trầu trên chõng tre, anh nói thẳng.
– Bà ơi, cháu xin phép lấy một ít nước bọt của bà để làm xét nghiệm. Người nằm dưới mộ ông Thuấn là một người còn trẻ. Có thể là anh Ngợi.
Bà Nhự ngừng nhai. Bà nhìn Doãn, rồi nhìn Mơn, rồi nhìn ra cái cổng.
– Tui biết rồi, – bà nói. – Đêm hôm trước hắn về nói hắn lạnh.
Bà há miệng cho Hạ lấy mẫu, ngoan ngoãn như một đứa trẻ đi khám răng. Rồi bà đứng dậy, chậm chạp đi vào nhà. Doãn thấy bà tới chỗ cái bàn kê ghế nhựa xanh, cầm cái bát cơm nguội lên, đổ vào cái nồi cám heo. Bà ra giếng rửa sạch, rồi quay vào xới một bát cơm mới, đặt đôi đũa ngang miệng bát, như mọi bữa.
– Khi mô chôn hắn tử tế thì tui mới úp bát, – bà nói, không quay lại. – Chưa chôn thì hắn chưa về.
Tiếng xe máy ngoài ngõ. Cẩn bước vào sân, xách theo một túi cá nục. Anh khựng lại khi thấy Doãn và Mơn, thấy Hạ đang cất cái ống đựng mẫu vào hộp.
– Có chuyện chi rứa chị Mơn?
Mơn nói cho anh. Chị nói ngắn gọn, giọng đều, như đọc số liệu.
Cẩn đứng im. Túi cá trên tay anh đung đưa. Rồi anh đặt túi cá xuống bậc thềm, quay người đi ra phía sau nhà, ra chỗ cái giếng. Doãn nghe tiếng anh ói khan, từng cơn, như người say sóng.
Khi Cẩn quay lại, mặt anh ướt nước giếng, mắt đỏ.
– Xin lỗi, – anh nói. – Em với nó ngồi chung một bàn chín năm.
Doãn đã dặn mọi người giữ kín. Nhưng ở một cái xã có ba nghìn hộ và một cái chợ, không có chuyện gì giữ kín được quá hai ngày.
Tới sáng thứ Hai, mười sáu tháng Ba, cả xã đã biết người nằm dưới mộ gió ông Thuấn không phải ông Thuấn mà là một người trẻ, và người ta chỉ cần cộng hai với hai. Chỉ có một người trẻ mất tích trên tàu Kim Ngư. Và con dao chôn cùng người trẻ ấy là dao của thuyền trưởng.
Hôm đó, theo đơn của hai gia đình, đội di dời mở sớm hai ngôi mộ gió của anh Tuất và ông Sơ. Trong mỗi ngôi chỉ có một cái quan tài nhỏ với một cái hình nhân đất. Không có gì khác. Người ta lại cộng thêm một lần nữa.
Câu chuyện mà xóm Bãi Ngang tự kể cho nhau nghe trong tuần ấy là như thế này: ông Thuấn với thằng Ngợi trôi được vào bờ. Thằng Ngợi gãy chân. Ông Thuấn vì một lẽ gì đó, có người bảo vì đồ cổ, có người bảo vì sợ bị bắt tội cho tàu ra khơi trái lệnh, đã để thằng Ngợi chết, chôn nó trong cát, rồi bỏ trốn. Có người còn nhớ ra ông Thuấn hồi trẻ từng đi Lào làm thuê hai năm, chắc là lại trốn sang Lào.
– Ai mà ngờ, – người ta nói. – Bề ngoài hiền khô.
Bà Bảo ra chợ sáng thứ Ba. Bà bày mẹt cá khô như mọi ngày. Người ta đi qua, liếc nhìn, rồi đi tiếp. Gần trưa, một bà bán rau ở sạp đối diện, người mà bà Bảo vẫn đổi cá lấy rau hai mươi năm nay, nói vọng sang, không nhìn bà:
– Tiền bạc chi mà bán cả mạng thằng nhỏ.
Bà Bảo dọn hàng về lúc mười một giờ, không nói một lời. Chiều đó Mơn đi chợ thay mạ, đứng trước sạp rau. Chị nói với bà kia rằng kết quả xét nghiệm chưa có, công an chưa kết luận gì, rằng bà có thể nói gì cũng được nhưng đừng nói trước mặt mạ chị. Bà kia đỏ mặt, cúi đầu nhặt rau. Mơn về nhà, ngồi trong bếp rất lâu, rồi khóc lần đầu tiên kể từ hôm mở mộ.
Doãn ngồi trước tờ giấy khổ to dán trên tường phòng làm việc. Anh viết thêm một dòng vào nửa phải, chỗ những chuyện của năm 2006: ba mươi tháng Mười, dựng mộ gió, ông Đạc chọn chỗ.
Anh gạch chân dòng ấy hai lần.
– Hạ, – anh nói. – Giả sử đúng như cả làng nói. Ông Thuấn chôn thằng Ngợi rồi trốn. Ông Thuấn làm sao biết hai tuần sau người ta sẽ dựng mộ gió cho chính ông ngay trên chỗ đó?
Hạ ngẩng lên khỏi máy tính.
– Không biết được.
– Không ai biết được. Trừ người chọn chỗ dựng mộ. – Anh gõ đầu bút lên dòng chữ. – Có thể là trùng hợp. Nghĩa địa có bấy nhiêu đất, đặt mộ chỗ nào chẳng được. Nhưng người đào đêm mùng năm thì không trùng hợp. Người đó đào chéo vào đúng góc có xương. Người đó biết.
– Ông Đạc không đi đào mộ được. Ông ấy ngồi xe lăn.
– Ừ. Ông Đạc không đào được.
– Thì anh Trác. Hoặc anh Thắng, người ta sai gì làm nấy.
– Năm 2006 anh Trác hai mươi tuổi, đang học trên Vinh, tháng Mười không về quê. Tôi đã cho kiểm tra sổ điểm danh của trường. Còn anh Thắng năm đó đi làm thuê trong Nam, năm 2010 mới về làm cho nhà ông Đạc. – Doãn đặt bút xuống. – Người đào mộ đêm mùng năm đã có mặt ở cái nghĩa địa này hai mươi năm trước, lúc trời chưa sáng, lúc người ta lấp cát lên một thằng con trai mười chín tuổi. Danh sách những người như thế ngắn lắm, Hạ ạ. Và một trong số đó vừa chết ở bến Ba Gành.
Hạ không nói gì. Cô kéo tờ danh sách thuyền viên tàu Kim Ngư ra, nhìn bảy cái tên. Bốn cái gạch từ năm 2006, một cái mới gạch đầu tháng. Còn lại hai: Đậu Xuân Tạo, Phan Văn Cẩn.
Sáng hai mươi ba tháng Ba, phòng giám định gửi kết quả. Doãn đọc hai lần trước khi gọi cho Mơn.
Mẫu hài cốt dưới mộ gió ông Trần Văn Thuấn không có quan hệ huyết thống với mẫu của chị Trần Thị Mơn. Mẫu hài cốt có quan hệ mẹ con với mẫu của bà Lê Thị Nhự, với xác suất trên chín mươi chín phẩy chín phần trăm.
Hồ Văn Ngợi. Mười chín tuổi. Hai mươi năm nằm dưới mộ gió của thuyền trưởng mình, trong cái áo phao màu cam, với cái chân gãy được nẹp bằng hai thanh ván sạp.
Doãn đến báo tin cho bà Nhự lúc mười giờ. Bà nghe, gật đầu, rồi hỏi bao giờ thì được đem con về chôn. Anh nói còn phải đợi cơ quan điều tra cho phép, chừng vài tuần. Bà lại gật. Bát cơm trên bàn vẫn còn bốc hơi.
Anh đến nhà bà Bảo lúc mười một giờ. Bà Bảo nghe xong, ngồi im rất lâu, rồi nói một câu mà anh không biết là hỏi hay là nói:
– Rứa thì anh ấy ở mô?
Tối hôm đó, Mơn ngồi ở trạm một mình. Chị không làm số liệu. Chị ngồi nhìn tấm bản đồ khúc lạch, nhìn cái đụn Cồn Rùa vẽ bằng bút chì ở góc trên, và nghĩ tới hai thanh ván sạp. Doãn đã kể cho chị nghe về chúng, chỉ chị với mạ, không ai khác. Ai đó đã nẹp chân cho Ngợi. Ai đó đã chôn Ngợi với con dao của bọ chị.
Chín giờ mười phút, điện thoại chị rung trên bàn. Một tin nhắn. Tên người gửi hiện trên màn hình là cái tên chị đã lưu từ ba năm trước, khi ông Hạnh hay gọi lên trạm hỏi bản tin gió để biết bữa nào ra lạch thả lưới được: Ông Hạnh lều.
Chị nhìn cái tên ấy rất lâu trước khi mở.
"Cha cô còn sống. Đừng tìm ông ấy nữa."
Chị bấm gọi lại. Một giọng nữ đều đều báo thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được.
Chị gọi cho Doãn. Tay chị run tới mức bấm nhầm hai lần.
– Anh Doãn. Ông Hạnh vừa nhắn tin cho em.
— Hết chương 8 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe