AI Truyện
Nửa con ngựa trên sóng

🔍 Trinh thám

Bốn phong bì gửi từ phương Nam

Nửa con ngựa trên sóng · Chương 4/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Bốn phong bì gửi từ phương Nam

Tới chín giờ sáng thứ Bảy, trên cái bàn gỗ trong phòng làm việc của công an xã đã nằm cạnh nhau bốn cái phong bì giấy nâu giống hệt nhau. Cùng một dấu bưu cục Vũng Tàu, cùng một ngày gửi.

Nhà chị Sen, vợ anh Lê Văn Tuất, nhận một cái. Nhà anh Hiểu, con trai ông Nguyễn Văn Sơ, nhận một cái. Bà Bảo nhận một cái. Và bà Lê Thị Nhự, mạ của thằng Ngợi, nhận cái thứ tư. Trong mỗi phong bì có hai mươi triệu đồng, một mảnh sứ cỡ con tem, và một mẩu giấy đánh máy gấp tư.

Doãn trải bốn mẩu giấy ra thành một hàng.

Mẩu của nhà chị Sen ghi: Xin lỗi.

Mẩu của nhà anh Hiểu ghi: Xin lỗi.

Mẩu của bà Bảo ghi: Biển không lấy họ. Xin lỗi.

Mẩu của bà Nhự ghi: Biển không lấy họ. Xin lỗi.

– Hai loại, – Hạ nói.

– Hai loại. – Doãn chống cằm. – Người gửi biết bốn nhà, gửi tiền bằng nhau, xin lỗi cả bốn. Nhưng chỉ nói với hai nhà rằng biển không lấy người của họ. Nhà ông Thuấn và nhà thằng Ngợi.

Lịch đứng khoanh tay sau lưng Doãn, im lặng rất lâu.

– Tức là người gửi nghĩ ông Tuất với ông Sơ chết ngoài biển thật. Còn ông Thuấn với thằng Ngợi thì không.

– Hoặc người gửi biết.

Mơn ngồi ở cái ghế gần cửa sổ. Chị tháo sợi dây dù trên cổ, đặt mảnh sứ của mình xuống bàn, cạnh bốn mảnh sứ kia. Năm mảnh, cùng một thứ men trắng ngả xanh, cùng một màu lam sẫm. Mảnh của chị là đầu ngựa. Bốn mảnh kia là một cánh hoa, một khúc dây leo, một mẩu vành đĩa có viền ô trám, và một mảnh trơn chỉ có vài chấm lam.

– Bọ em mang cái này về hồi tháng Tám năm đó, – chị nói. – Bọ nói lưới kéo lên ở Hòn Én. Bọ nói đồ của người xưa, đừng khoe ai.

Doãn nhìn chị.

– Chị chưa từng kể chuyện này với ai?

– Kể làm chi. Hai mươi năm em tưởng nó là mảnh đĩa bọ nhặt cho con gái chơi. – Chị cầm mảnh sứ đầu ngựa lên, lật mặt sau. Dưới đáy có một vòng tròn không men, đất mộc màu nâu đỏ. – Giờ thì em không chắc nữa.

Doãn chụp ảnh cả năm mảnh, gửi cho một người quen ở bảo tàng tỉnh. Hai mươi phút sau người đó gọi lại, giọng hào hứng như vừa trúng số.

– Anh Doãn, nhìn ảnh thì tôi không dám nói chắc, phải cầm tận tay. Nhưng đây là gốm hoa lam, men rạn, vẽ tay, kiểu này người ta hay gặp ở mấy con tàu buôn cổ đắm dọc biển miền Trung. Mấy trăm năm tuổi chứ không ít. Con ngựa phi trên sóng là hoạ tiết quý. Anh lấy ở đâu ra vậy?

– Ở biển.

– Biết là ở biển rồi. Chỗ nào ở biển?

Doãn cảm ơn, hẹn sẽ gửi mẫu lên, rồi cúp máy. Anh nhìn Mơn.

– Nếu Kim Ngư kéo lưới trúng một con tàu đắm cổ thì theo luật, phải khai báo. Đồ dưới biển là của nhà nước.

– Bọ em biết, – Mơn nói. – Em nghĩ bọ biết. Bọ không phải người tham.

– Còn ông Đạc?

Chị không trả lời.

Hạ đã gọi vào Vũng Tàu, nhờ công an phường nơi có bưu cục kiểm tra người gửi. Trong ba người sống sót của tàu Kim Ngư, ông Hạnh đã chết, Cẩn ở đây, chỉ còn Đậu Xuân Tạo. Năm 2007 ông Tạo vào Vũng Tàu làm thợ máy cho một xưởng sửa tàu, hai mươi năm chưa về quê lần nào, kể cả khi mạ ông mất.

– Sáng thứ Tư người ta vớt ông Hạnh, chiều thứ Tư ông Tạo gửi bốn phong bì, – Hạ nói. – Nhanh vậy, như có sẵn tiền chờ dịp.

– Như có sẵn lời xin lỗi chờ dịp, – Doãn nói.

Nhà bà Nhự nằm ở cuối xóm Bãi Ngang, sát chân đụn cát, một căn nhà cấp bốn tường gạch không trát, mái ngói xi măng đã rêu xanh. Trước sân có một cây bàng lá đỏ rụng đầy, và một cái giàn mướp khô.

Bà Nhự bảy mươi sáu tuổi, nhỏ thó, lưng còng, tóc bạc trắng búi củ hành. Bà ngồi trên cái chõng tre ở hiên, nhai trầu, mắt nhìn ra cổng như đang đợi ai.

Doãn chào. Bà gật đầu, chỉ cho anh cái ghế đẩu.

Trong nhà, trên cái bàn thờ gỗ, chỉ có bát hương của ông chồng bà, mất ngoài biển năm 1993, và ảnh ông bố mẹ chồng. Không có ảnh thằng Ngợi. Ảnh Ngợi được đặt trên cái tủ thờ đứng bên cạnh, trong một cái khung nhựa đỏ, một thằng con trai mười tám tuổi mặc áo sơ mi trắng, cười toe, răng khểnh.

Cạnh cái mâm cơm úp lồng bàn ở góc nhà, có một cái ghế nhựa xanh kê sẵn. Trên mặt bàn trước cái ghế ấy là một cái bát sứ trắng, xới đầy cơm, đặt đôi đũa tre ngang miệng bát.

– Phần cho thằng Ngợi, – bà Nhự nói, thấy Doãn nhìn. – Hắn đi biển chưa về. Về đói, có cơm ăn liền.

Doãn không biết nói gì. Mơn ngồi xuống cạnh bà, cầm tay bà.

– Bà ơi, anh Doãn công an tỉnh hỏi bà về cái phong bì.

– Cái phong bì thì có chi mà hỏi. – Bà lấy từ trong túi áo cánh ra một cái phong bì nâu, chưa bóc phần tiền, chỉ xé một góc. Bà đổ ra lòng bàn tay mảnh sứ, đưa cho Doãn xem. Một mẩu vành đĩa viền ô trám. – Tiền thì tui không lấy. Người ta gửi lộn. Tui có ai chết đâu mà người ta xin lỗi.

– Bà đọc cái giấy chưa?

– Mắt tui kém. Thằng Cẩn đọc cho tui. – Bà quay vào trong. – Cẩn ơi.

Từ sau nhà, Cẩn bước ra, tay cầm cái búa, áo phao đã cởi ra, mặc áo ba lỗ ướt mồ hôi. Anh cười với Doãn, hơi ngượng.

– Mái nhà mạ dột, em qua thay mấy viên ngói.

Bà Nhự nhìn Cẩn, mắt sáng lên như nhìn con.

– Thằng ni hai mươi năm nay tháng mô cũng qua. Lợp mái, gánh nước, đau ốm chở đi trạm xá, Tết mua bánh chưng. Hắn nói hắn với thằng Ngợi học chung một lớp, ngồi chung một bàn. Hắn nói thằng Ngợi chưa về thì hắn thay thằng Ngợi.

– Mạ nói chi rứa, – Cẩn gãi đầu.

– Tui nói thiệt. Không có hắn thì tui chết lâu rồi.

Doãn hỏi bà về thằng Ngợi. Bà kể lan man, hết chuyện này tới chuyện khác: thằng Ngợi sinh năm Đinh Mão nên cha nó đặt tên ở nhà là Mão, đi học cô giáo đổi thành Ngợi cho hay. Năm chín tuổi trèo cây phi lao bắt tổ chim, ngã gãy tay trái, bó bột hai tháng mà vẫn đứng nhất lớp chữ đẹp. Năm mười tám tuổi thi đại học không đậu, nhất định đi biển kiếm tiền cho mạ xây nhà.

– Hắn nói chuyến ni về là đủ tiền đổ móng, – bà nói. – Chuyến ni về.

Mơn nhìn sang Cẩn. Cẩn đang nhìn cái bát cơm trên bàn, mặt không biểu lộ gì.

Lúc ra về, Doãn với Mơn đi bộ dọc con đường cát dưới hàng phi lao. Chị đi chậm, tay đút túi áo gió.

– Ba đứa học chung một lớp, – chị kể. – Em, Cẩn với Ngợi. Ngợi ngồi bàn đầu vì thấp, Cẩn ngồi cạnh vì cô giáo bảo thằng to phải kèm thằng nhỏ. Ngợi giỏi văn, Cẩn giỏi bơi. Năm lớp Chín có đứa bị chuột rút ngoài bãi tắm, Cẩn bơi ra kéo vô. Từ hồi đó cả trường gọi Cẩn là phao.

– Còn chị?

– Em thì giỏi toán, ngồi bàn cuối, không ai để ý. – Chị cười. – Ra trường em đi học, hai đứa đi biển. Rồi một đứa không về.

– Anh Cẩn có kể với chị về đêm bão không?

– Không bao giờ. Hai mươi năm, chưa lần nào. Cả xã ai hỏi Cẩn cũng chỉ nói một câu: không thấy ai. – Chị dừng lại, nhìn ra biển qua mấy thân phi lao. – Em nghĩ có những người sống sót thì phải im lặng mới sống tiếp được.

Doãn không nói gì. Anh nghĩ tới cái bát cơm có đôi đũa đặt ngang miệng, và người đàn ông đứng nhìn nó mà mặt không biểu lộ gì.

Tối hôm đó, bốn gia đình kéo nhau tới nhà bà Nhự. Không ai hẹn ai, chỉ là nhận được cái phong bì giống nhau thì người ta muốn ngồi với nhau. Chị Sen đem theo một nồi chè đậu đen. Anh Hiểu đem một chai rượu thuốc. Lịch tới, ngồi ở góc, không mặc quân phục. Cẩn tới, chở theo một thùng nước ngọt. Doãn và Hạ không vào, ngồi ở quán nước đầu ngõ, nhưng Mơn đã để điện thoại trong túi áo, gọi sẵn cho Doãn, để anh nghe.

Người ta nói đủ chuyện. Có người bảo tiền này là nhà ông Đạc gửi, ông sắp chết nên muốn chuộc tội, nhờ người trong Nam gửi cho khỏi lộ. Có người bảo ông Tạo vào Nam làm ăn khá, nhớ quê, gửi tiền giúp. Anh Hiểu bảo ông Tạo hồi đó có nợ ông Sơ nhà anh năm triệu, giờ trả.

– Trả năm triệu mà gửi hai chục? – chị Sen hỏi.

– Thì lãi hai chục năm.

Có người cười. Rồi không ai cười nữa.

– Biển không lấy họ, – bà Bảo nói, rất nhỏ. – Là răng, ai nói tui nghe với.

Cả nhà im. Bà Nhự ngồi trên chõng, nhai trầu, không nói gì, mắt nhìn cái bát cơm.

– Cô Mơn, – anh Hiểu quay sang. – Cô làm ở trạm khí tượng, cô có biết cái đêm bão đó răng không?

– Trạm em còn giữ giản đồ triều ký năm đó, – Mơn nói. – Giản đồ giấy, ghi từng phút nước lên xuống. Cả đêm bão, cả mấy ngày sau. Em chưa bao giờ lấy ra coi. Mai em lấy ra. Nước lên mấy giờ, ròng mấy giờ, gió đổi hướng lúc mô, cửa lạch cạn lúc mô. Mấy cái đó không ai sửa được, không ai nói dối được.

– Thì được chi, con? – bà Bảo hỏi.

– Thì biết ai nói thật, mạ ạ.

Cẩn đang rót nước ngọt vào mấy cái ly nhựa. Anh ngẩng lên.

– Chị cần người khiêng hộp thì gọi em. Kho trạm chị toàn hộp giấy nặng, em biết, hồi tháng Giêng em thấy rồi.

– Cảm ơn anh. Em tự làm được.

Ở quán nước đầu ngõ, Doãn nghe qua điện thoại, nhai hạt sen, nhìn lên trời. Trăng mười chín đã lên muộn, khuyết một mép.

– Chị ấy vừa nói to giữa mười mấy người rằng chị ấy có một thứ không ai nói dối được, – Hạ nói.

– Ừ. – Doãn đứng dậy. – Mai tôi sẽ lên trạm với chị ấy sớm.

Anh đã không lên sớm được. Năm giờ sáng Chủ nhật, Mơn đến trạm trước anh. Chị thấy cổng sắt vẫn khoá. Chị thấy cửa phòng máy vẫn khoá. Rồi chị đi vòng ra sau, tới cái nhà kho nhỏ nơi xếp hồ sơ lưu trữ của trạm từ năm 1998.

Cái ổ khoá treo trên cửa kho đã bị cắt đứt ngang thân, rơi trên bậc thềm, dính cát.

— Hết chương 4 —

Mục lục Nửa con ngựa trên sóng

  1. 1Con nước ròng lúc năm giờ9 phút
  2. 2Tờ lịch khoanh đỏ12 phút đọc
  3. 3Ngôi mộ không có ai10 phút đọc
  4. 4Bốn phong bì gửi từ phương Nam10 phút đọc
  5. 5Giản đồ triều tháng Mười10 phút đọc
  6. 6Lửa ở Cồn Rùa10 phút đọc
  7. 7Dưới lớp xi măng9 phút đọc
  8. 8Bát cơm chưa úp10 phút đọc
  9. 9Người vá lưới ở Cửa Gianh11 phút đọc
  10. 10Trời tối như mực10 phút đọc
  11. 11Sân lăng Ông lúc trời chưa sáng9 phút đọc
  12. 12Cái lán đã ra biển10 phút đọc
  13. 13Ba tiếng rưỡi nước ròng10 phút đọc
  14. 14Nút buộc của bọ10 phút đọc
  15. 15Ba mươi lăm cây số về bờ11 phút đọc
  16. 16Chữ viết bằng tay trái10 phút đọc
  17. 17Lời của người thứ ba10 phút đọc
  18. 18Doi cát lúc nửa đêm10 phút đọc
  19. 19Áo phao số một9 phút đọc
  20. 20Hai nửa con ngựa9 phút đọc

Về truyện này

Nửa con ngựa trên sóng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →