AI Truyện
Nửa con ngựa trên sóng

🔍 Trinh thám

Sân lăng Ông lúc trời chưa sáng

Nửa con ngựa trên sóng · Chương 11/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 11: Sân lăng Ông lúc trời chưa sáng

Lăng Ông xóm Bãi Ngang quay mặt ra biển, lưng tựa vào rặng phi lao. Trong cái hộp kính đặt trên bệ thờ chính là bộ xương cá Ông dài gần bốn mét, trắng như san hô. Ông nội của những người già nhất xóm bây giờ đã kéo bộ xương ấy vào bờ từ trước năm 1945.

Mơn tới lúc bốn giờ hai mươi. Chị dựng xe ngoài cổng, đi bộ vào sân. Sân lát gạch đỏ, rộng chừng một sân bóng chuyền, hai bên có hai cây bàng già, giữa sân có cái lư hương đá đã mòn vẹt miệng. Một ngọn đèn vàng treo trên mái hiên toả ra một quầng sáng nhỏ, còn lại là bóng tối.

Chị đứng cạnh cái lư hương. Điện thoại trong túi áo khoác đã gọi sẵn cho Doãn, để im. Doãn và Lịch ngồi trong một chiếc thúng chai úp sấp trên bãi cát cách cổng lăng năm chục mét, chỗ người ta vẫn úp thúng phơi cho khô. Chị đã cãi Doãn nửa đêm, rằng ông Tạo nói thấy công an là bỏ đi, rằng nếu ông ta bỏ đi thì không bao giờ có ai biết được gì. Cuối cùng Doãn chịu, với điều kiện chị không được đi theo ông Tạo ra khỏi sân.

Biển vỗ đều. Một con chó ở đâu trong xóm sủa mấy tiếng rồi thôi.

Bốn giờ ba mươi lăm, có tiếng dép lẹp xẹp từ phía sau lăng. Một người đàn ông đi ra từ khoảng tối giữa hai bức tường, dừng lại ở mép quầng sáng.

Ông Tạo năm mươi tám tuổi mà trông như bảy mươi. Gầy, vai xuôi, tóc cắt ngắn bạc gần hết, mặc áo khoác gió màu xám, đeo một cái ba lô vải sờn. Mắt ông đảo khắp sân, nhìn ra cổng, nhìn lên mái, rồi mới nhìn chị.

– Cô Mơn.

– Chú Tạo.

– Cô lớn rồi. – Ông nói, giọng khàn, đặc giọng Nghệ nhưng có pha một chút gì đó của trong Nam. – Hồi tôi đi, cô còn đi học Hà Nội. Bọ cô hay khoe con gái học giỏi.

– Chú gửi bốn cái phong bì.

– Tôi gửi. – Ông gật. – Tôi để dành tiền mười mấy năm. Tôi định khi mô chết thì nhờ người gửi. Rồi nghe tin ông Hạnh chết, nghe tin người ta sắp bốc mộ, tôi không đợi được nữa.

– Răng hai nhà ghi khác hai nhà?

Ông Tạo nhìn xuống nền gạch.

– Vì ông Tuất với ông Sơ chết ngoài biển thật. Tôi thấy ông Sơ chìm, ngay trước mặt tôi, cách có hai sải tay. Tôi xin lỗi vì tôi không với tới. Còn bọ cô với thằng Ngợi thì không phải biển lấy.

Mơn thấy hai đầu gối mình mềm ra. Chị bám tay vào miệng lư hương.

– Chú nói bọ em ra răng.

– Bọ cô… – Ông Tạo ngước lên, mắt đỏ. – Bọ cô chưa bao giờ ra khỏi cái lán đó. Cô hiểu không. Bọ cô vô tới lán. Rồi bọ cô không ra nữa.

Một cơn gió thốc qua sân, làm mấy chiếc lá bàng khô lăn lạch xạch trên nền gạch. Mơn nghe tiếng mình hỏi, như của ai khác:

– Bọ em chết ở đó?

Ông Tạo không trả lời câu ấy. Ông bước thêm một bước, hạ giọng thật thấp.

– Cô cho tôi hỏi một câu đã. Cẩn. Cẩn khai với các người răng?

Mơn nhìn ông. Chị nghĩ tới Doãn đang nghe ở đầu bên kia điện thoại. Chị nghĩ tới Cẩn quỳ trên sân trụ sở. Chị kể. Chị kể ngắn gọn: cái lán, mười tám tiếng, ông Đạc, cái câu học thuộc, rồi hai giờ sáng Cẩn ra ngoài đi tiểu, thấy bọ chị đi một mình về phía bắc, khập khiễng, vai đeo túi, không gọi.

Ông Tạo nghe tới đó thì cười. Một tiếng cười khô khốc, ngắn, như tiếng ho.

– Hắn nói rứa à. Hắn nói thấy bọ cô đi một mình.

– Rứa thì không phải?

Ông không trả lời. Mặt ông trắng bệch dưới ánh đèn vàng. Ông nhìn ra cổng lăng, nhìn ra con đường cát tối om, như đang tính một cái gì đó rất nhanh trong đầu.

– Ông Hạnh chết đêm mô? – ông hỏi. – Mấy giờ?

– Đêm mùng ba rạng mùng bốn. Khoảng một giờ sáng. Ở bến Ba Gành.

– Trước đó ông Hạnh có gọi cho ai không?

– Có. Gọi cho Cẩn.

Ông Tạo nhắm mắt lại. Môi ông mấp máy, không thành tiếng. Khi ông mở mắt ra, Mơn thấy trong đó một thứ chị chưa từng thấy ở người lớn nào: nỗi sợ trần trụi của một đứa trẻ.

– Cô Mơn, tôi cũng có tội, – ông nói rất nhanh. – Tôi im lặng hai mươi năm. Tôi cầm tiền của ông Đạc. Tôi bỏ đi. Tôi không dám về đám ma mạ tôi. Tôi muốn nói hết. Nhưng tôi phải nghĩ đã. Tôi phải biết người ta có bảo vệ tôi không. Cô cho tôi một ngày. Cô nói với công an, cho tôi một ngày.

– Chú nói với em đi. Nói ngay đây. Bọ em…

Một luồng đèn pha xe máy quét ngang qua cổng lăng, chiếu thẳng vào sân, rọi lên mặt hai người trắng loá. Tiếng máy xe nổ ì ì, đứng yên ngoài cổng.

Ông Tạo quay người chạy. Ông chạy như một người đã từng chạy nhiều lần trong đời, không ngoái lại, lao vào khoảng tối giữa hai bức tường phía sau lăng, rồi mất hút.

– Chú Tạo!

Mơn chạy theo được ba bước thì nhớ lời Doãn, dừng lại.

Từ phía bãi cát, Doãn và Lịch đã chạy tới. Lịch lao thẳng ra cổng, về phía chiếc xe máy. Doãn chạy vòng ra sau lăng, đèn pin trên tay quét qua những bức tường, những bụi dứa dại, những lối mòn tách ra năm ngả vào xóm. Anh chạy được chừng trăm mét thì dừng. Lối nào cũng tối, cũng vắng, cũng đầy dấu dép.

Phía cổng, có tiếng Lịch quát, tiếng xe máy rồ ga rồi tắt, tiếng người ngã xuống cát.

Khi Doãn quay lại, Lịch đã ghì được người lái xe xuống đất, một đầu gối đè lên lưng. Người đó vùng vẫy một lúc rồi nằm im, thở hồng hộc.

Là Thắng. Cai kho của nhà ông Đạc.

Họ đưa Thắng về trụ sở công an xã lúc năm giờ rưỡi, khi trời vừa sáng. Thắng ngồi trên ghế, áo dính đầy cát, môi rách một mép vì ngã. Lúc đầu anh ta chỉ nói đi qua, thấy đèn trong lăng sáng, ghé vào thắp hương. Doãn để anh ta nói hết, rồi đặt lên bàn bản in vị trí điện thoại của anh ta đêm mùng chín tháng Ba.

– Mười giờ hai mươi anh ở kho Cồn Rùa. Mười một giờ năm anh ở nhà. Mười một giờ hai mươi anh quay lại kho. Kho bắt đầu cháy lúc mười giờ bốn mươi. Anh nói anh ở nhà cả tối.

Thắng nhìn tờ giấy rất lâu. Rồi anh ta thở dài, cái thở dài của người đã mệt.

– Anh Trác bảo tôi đốt. Anh ấy đưa tôi năm triệu, bảo tôi tưới xăng ba chỗ, châm lửa rồi về nhà, có ai gọi thì chạy ra. Anh ấy nói kho đằng nào cũng giải toả, đốt đi thì đỡ công tháo dỡ, lại được bảo hiểm. Tôi làm cho nhà anh ấy mười sáu năm, anh Doãn. Tôi không dám không làm.

– Còn sáng nay?

– Sáng nay cũng anh Trác sai. – Thắng chùi máu ở mép môi. – Mấy hôm nay trong xóm đồn ông Tạo đã về, có người thấy ông ở nhà nghỉ bên xã kia. Anh Trác bảo tôi đi tìm ông Tạo trước công an. Tìm được thì đưa về gặp anh ấy.

– Để làm gì?

Thắng nhìn Doãn, ngập ngừng.

– Anh Trác không nói. Nhưng tôi nghe anh ấy nói với vợ, tối hôm kia, tôi đứng ngoài sân nghe được. Anh ấy nói từ hôm bị tai biến tới giờ, đêm nào ông già cũng khóc, cứ chỉ tay về phía Cồn Rùa. Anh ấy nói anh ấy phải biết bố anh ấy đã làm cái chi, trước khi các anh biết.

Doãn ngả lưng ra ghế.

Bảy giờ, Lịch chạy xe sang xã bên, tới cái nhà nghỉ hai tầng bên quốc lộ mà Thắng nói. Bà chủ nhà nghỉ ngái ngủ lật sổ. Một người đàn ông tên Đậu Xuân Tạo thuê phòng số sáu từ tối mùng bảy, trả tiền mặt từng ngày, ít khi ra ngoài, gọi cơm hộp mang lên phòng. Ba giờ rưỡi sáng nay ông xuống quầy trả chìa khoá, đeo ba lô, nói đi xe sớm về Nam. Không ai thấy ông lên xe nào.

– Ông có hay gọi điện thoại không? – Lịch hỏi.

– Không thấy. Chỉ có bữa đầu, ông hỏi tui mượn cái lịch âm, coi bữa mô rằm. – Bà chủ ngáp. – Tui tưởng ông đi lễ chùa.

Lịch gọi về báo cho Doãn. Doãn nghe xong, nhìn tờ lịch treo trên tường phòng làm việc. Rằm tháng Hai âm lịch rơi vào thứ Năm, mùng hai tháng Tư.

Mơn ngồi ở phòng bên cạnh, hai tay ôm cốc nước nóng Hạ pha cho. Chị chưa uống ngụm nào. Doãn bước vào, ngồi xuống đối diện chị.

– Tôi nghe hết, – anh nói. – Chị làm đúng.

– Ông ấy chạy rồi.

– Ông ấy sẽ gọi lại. Ông ấy đã đi từ Vũng Tàu ra đây để nói. Người đi xa như thế để nói thì sẽ nói.

Mơn nhìn xuống cốc nước.

– Ông ấy nói bọ em chưa bao giờ ra khỏi cái lán đó. – Chị ngẩng lên. – Còn Cẩn nói thấy bọ em đi một mình về phía bắc. Một trong hai người nói dối.

– Hoặc cả hai người đều chỉ nói một nửa.

– Ông ấy hỏi Cẩn khai răng. Câu đầu tiên ông ấy hỏi em. Trước cả khi kể chi về bọ em.

– Tôi nghe rồi.

Ngoài sân, Hạ đi vào, tay cầm một cái túi ni lông.

– Anh Doãn. Người ta quét sân lăng sáng nay, nhặt được cái này ở lối sau, chỗ ông Tạo chạy qua. Chắc rơi từ túi áo ông ấy.

Trong túi là một tờ giấy học trò kẻ ô, gấp làm tám, mép đã sờn như được mở ra gấp vào rất nhiều lần. Doãn trải ra trên bàn.

Đó là một hình vẽ bằng bút bi, nét run run của người không quen cầm bút. Một hình chữ nhật dài, có ghi chữ "lán". Một đường lượn sóng bên phải, ghi chữ "biển". Một ô vuông nhỏ trong hình chữ nhật, ở góc phía biển, ghi chữ "chỗ để thúng". Và ngay dưới ô vuông ấy, một dấu nhân đậm, tô đi tô lại tới mức giấy gần thủng.

Bên dưới hình vẽ, có một dòng chữ viết hoa, nghiêng:

ANH THUẤN Ở ĐÂY.

— Hết chương 11 —

Mục lục Nửa con ngựa trên sóng

  1. 1Con nước ròng lúc năm giờ9 phút
  2. 2Tờ lịch khoanh đỏ12 phút đọc
  3. 3Ngôi mộ không có ai10 phút đọc
  4. 4Bốn phong bì gửi từ phương Nam10 phút đọc
  5. 5Giản đồ triều tháng Mười10 phút đọc
  6. 6Lửa ở Cồn Rùa10 phút đọc
  7. 7Dưới lớp xi măng9 phút đọc
  8. 8Bát cơm chưa úp10 phút đọc
  9. 9Người vá lưới ở Cửa Gianh11 phút đọc
  10. 10Trời tối như mực10 phút đọc
  11. 11Sân lăng Ông lúc trời chưa sáng9 phút đọc
  12. 12Cái lán đã ra biển10 phút đọc
  13. 13Ba tiếng rưỡi nước ròng10 phút đọc
  14. 14Nút buộc của bọ10 phút đọc
  15. 15Ba mươi lăm cây số về bờ11 phút đọc
  16. 16Chữ viết bằng tay trái10 phút đọc
  17. 17Lời của người thứ ba10 phút đọc
  18. 18Doi cát lúc nửa đêm10 phút đọc
  19. 19Áo phao số một9 phút đọc
  20. 20Hai nửa con ngựa9 phút đọc

Về truyện này

Nửa con ngựa trên sóng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →