Chương 1: Con nước ròng lúc năm giờ
– Mơn ơi, ông Hạnh nằm ngoài doi cát cửa lạch, mặt úp xuống cát rồi con ơi.
Giọng mạ trong điện thoại run như người vừa chạy bộ. Mơn đang đứng trên bậc thang sắt của giếng triều, một tay níu thành giếng, một tay cầm sợi dây phao vừa gỡ ra khỏi cái ống. Cái phao bị kẹt từ nửa đêm, kim ghi trên giản đồ cứ vẽ một đường thẳng cứng như kẻ thước, và chị dậy từ bốn giờ để ra gỡ.
– Mạ đang ở mô?
– Mạ ở chợ. Người ta chạy vô kêu. Công an xã ra rồi.
Mơn buộc lại sợi dây phao vào khuyên sắt. Tay chị tự làm, không cần nghĩ: vòng một cái ghế đơn, rút chặt, rồi thêm một vòng khoá vắt ngang cổ nút. Bọ chị dạy cái nút này năm chị sáu tuổi, để cột võng dưới gốc phi lao. Bọ bảo nút ghế đơn thì ai cũng biết, nhưng thêm vòng khoá thì sóng giật cả đêm cũng không tuột. Ba mươi ba năm, chị chưa từng buộc kiểu nào khác.
Chị ghi vào sổ trực: năm giờ kém mười, phao số hai kẹt, đã xử lý. Rồi chị khoá cửa trạm, dắt xe ra.
Trạm hải văn Cửa Cương nằm trên một gò cát cao ở mép bắc cửa lạch, nhìn thẳng xuống chỗ dòng lạch đổ ra biển. Từ cổng trạm, Mơn đã thấy đám đông đứng thành một vòng đen trên doi cát. Trời còn xanh thẫm. Doi cát bắc lộ ra dài cả trăm mét, ướt bóng, lỗ chỗ dấu chân còng.
Chị không cần xem bảng cũng biết con nước sáng nay. Mười sáu tháng Giêng, nước cường. Ròng sát lúc năm giờ hai mươi. Một tiếng nữa doi cát này sẽ chìm lại dưới nửa mét nước.
Thiếu tá Trương Công Lịch, trưởng công an xã, đã căng xong một sợi dây ni lông vàng cắm bằng mấy cây cọc tre. Anh xắn quần tới gối, chân trần dính bùn.
– Chị Mơn. Đừng vô gần, để giữ hiện trường.
– Em không vô. Anh cho em đứng đây thôi.
Ông Võ Đức Hạnh nằm sấp, hai tay xuôi, má trái úp vào cát. Ông mặc cái áo bộ đội cũ đã bạc thành màu cỏ úa, quần ka ki xắn một bên. Chân phải còn chiếc ủng cao su đen, chân trái trần. Mùi rượu đế bốc lên ngay cả trong gió biển, nồng tới mức mấy bà đứng gần lấy nón che mũi.
– Rượu vô rồi ngã ở lều chứ răng, – một ông đứng sau Mơn nói. – Tối mô mà không say. Tui nói hắn hoài.
– Lều hắn cạnh cái cầu ván, ngã một phát là xuống lạch.
Mơn không nói gì. Chị nhìn cái lều của ông Hạnh ở bờ bên kia. Bờ nam. Một cái lều lợp tôn dựng trên bốn cây cọc, có cái cầu ván thò ra mép nước. Từ chỗ cái cầu ván ấy, nếu một người ngã xuống lúc nước bắt đầu ròng, dòng chảy sẽ kéo ông ta sát bờ nam, qua bãi bùn cạn phía nam rồi mắc lại đó. Lạch Cương uốn một khúc trước khi ra cửa, và dòng sâu, cái luồng mà ghe tàu vẫn đi, chạy sát bờ bắc. Cái luồng ấy đổ ra đúng chỗ doi cát này.
Thứ gì nằm trên doi cát bắc lúc nước ròng là thứ đã đi theo luồng sâu xuống. Mà luồng sâu thì không chạy qua cầu ván nhà ông Hạnh.
Chị ghi nhớ điều đó, rồi để yên.
Người ta lật ông Hạnh lên lúc năm giờ rưỡi, khi đội pháp y của tỉnh chưa xuống kịp mà nước đã bắt đầu lên, Lịch phải chụp ảnh, đánh dấu rồi cho khiêng lên bờ. Mặt ông Hạnh trắng bệch, cát bám vào hàng mi. Một người đàn ông cao, vai rộng, mặc áo phao cam của tổ cứu hộ xã, quỳ xuống trải tấm bạt, cùng ba người nữa nhấc ông Hạnh lên, nhẹ như nhấc một đứa trẻ ngủ quên.
Đó là Phan Văn Cẩn, tổ trưởng tổ cứu hộ. Mơn học cùng lớp với Cẩn từ lớp Một tới lớp Mười Hai. Cẩn học xong lớp Mười Hai thì theo tàu, giờ làm thuyền trưởng tàu Bình An, và cả xã ai cũng biết mười bốn năm nay tổ của Cẩn đã kéo bốn mươi mốt người ra khỏi biển. Cẩn ngẩng lên, thấy Mơn, gật đầu một cái rất khẽ, mắt đỏ.
– Chị về đi Mơn. Đứng đây lạnh.
Chị chưa về ngay. Lúc người ta khiêng ông Hạnh qua trước mặt, chị nhìn thấy một vệt cát mịn màu vàng nhạt dính trong nếp gấp tay áo ông. Cát ở doi này là cát đen lẫn bùn. Cát vàng mịn như thế chỉ có trên đụn, hoặc ở mấy cái bến được đổ cát san nền.
Chị chạy xe về trạm, kịp ghi số liệu lúc bảy giờ. Rồi chị ngồi một mình trong phòng máy, rút cái giản đồ đêm qua ra, trải lên bàn. Cái đường thẳng cứng như kẻ thước kéo dài từ nửa đêm tới gần năm giờ, đúng quãng phao kẹt. Không đọc được gì trong quãng ấy. Nhưng trước nửa đêm thì có. Nước đứng lúc mười hai giờ hai mươi, bắt đầu ròng từ mười hai giờ rưỡi. Con nước cường, ròng mạnh, giờ đầu chậm, giờ thứ ba thứ tư chảy nhanh nhất.
Chị lấy cuốn sổ tay, ghi mấy con số. Từ cầu ván nhà ông Hạnh ra doi cát bắc chưa tới sáu trăm mét, nhưng phải băng ngang luồng. Từ bến Ba Gành, chỗ có nhà máy nước đá, bến đổ cát vàng san nền năm ngoái, ra doi cát bắc thì hai cây số mốt, xuôi theo luồng. Một cái xác người nặng nề, chìm lơ lửng, đi với tốc độ chừng một nửa dòng chảy.
Chị tính đi tính lại ba lần. Lần nào cũng ra một khoảng: xuống nước ở quãng Ba Gành, giữa mười hai giờ bốn mươi và một giờ rưỡi sáng.
Mơn đặt bút xuống. Ngoài cửa sổ, nước đã lên lấp hết doi cát. Mặt lạch phẳng và xám như tấm tôn.
Chị đưa tay lên cổ, sờ cái mảnh sứ đeo bằng sợi dây dù đen.
Mảnh sứ to hơn đồng xu một chút, men trắng ngà ngả xanh, vẽ màu lam. Trên đó là cái đầu và hai chân trước của một con ngựa đang phi, bờm bay ngược, móng chân trước co lên, dưới móng là mấy đường sóng cuộn. Mép vỡ bọ chị đã mài nhẵn bằng đá mài dao, khoan một lỗ nhỏ để luồn dây. Đêm đầu tháng Chín năm 2006, đêm trước khi chị ra Hà Nội học năm thứ hai, bọ ngồi trên bậc cửa, đưa cho chị mảnh sứ ấy.
– Đồ dưới biển lưới kéo lên. Cái đĩa vỡ làm đôi. Nửa đầu cho con, nửa đuôi bọ giữ. Khi mô bọ về, hai bọ con ghép lại coi con ngựa có chạy được không.
– Đồ dưới biển là đồ chi bọ?
– Đồ của người xưa. Đừng khoe ai. – Bọ ngừng một chút, rồi cười. – Mà có khoe thì người ta cũng tưởng mảnh bát mẻ.
Năm tuần sau, tàu Kim Ngư của ông Cao Xuân Đạc chìm trong cơn bão vào sớm hơn dự báo cả nửa ngày, ở gần Hòn Én, cách bờ hơn ba mươi cây số. Bảy người trên tàu, ba người bám phao sống sót. Ông Hạnh là một trong ba người ấy. Cẩn là người thứ hai. Người thứ ba là chú Đậu Xuân Tạo, năm sau thì bỏ vào Nam. Bốn người không về. Bọ chị, Trần Văn Thuấn, là thuyền trưởng. Thằng Hồ Văn Ngợi, bạn cùng lớp chị, mười chín tuổi, đi biển chuyến thứ sáu.
Hai mươi năm, nửa đuôi con ngựa vẫn nằm đâu đó dưới đáy biển gần Hòn Én, trong túi áo ngực có cài nút của bọ. Chị tin như thế. Mạ chị tin như thế. Cả xã tin như thế.
Gần trưa, Mơn chạy xe ra chợ xã. Mạ chị ngồi sau mẹt cá khô, cá chỉ vàng phơi một nắng, cá mối xẻ, mực một nắng xâu từng xâu, hai trăm tám chục một cân. Tay mạ không cầm quạt đuổi ruồi, cứ để ruồi đậu.
– Mạ về đi. Hôm nay nghỉ một bữa.
– Về làm chi. Ngồi đây còn có người nói chuyện.
Mơn ngồi xuống cái ghế nhựa thấp bên cạnh. Mạ chị sáu mươi tư tuổi, tóc búi gọn sau gáy, trên tay có vết sẹo dài do dao xẻ cá. Hai mươi năm làm goá phụ, năm nào mạ cũng đến ngày mười một tháng Mười dương lịch là bày mâm cúng, đốt cho bọ một bộ quần áo giấy màu cam như áo phao.
– Mơn, – mạ nói nhỏ, mắt không rời mẹt cá. – Hôm thứ Hai, ông Hạnh ra đây.
– Ông mua cá à?
– Không. Hắn say. Mới chín giờ sáng đã say. Hắn đứng chỗ ni, đúng chỗ con ngồi, nắm cái tay mạ. – Mạ xoè bàn tay ra, như vẫn còn thấy dấu tay người ta trên đó. – Hắn nói: chị Bảo, anh Thuấn không nằm ngoài biển đâu.
Mơn ngồi im.
– Mạ hỏi rứa thì nằm ở mô. Hắn khóc. Hắn khóc như con nít, nước mũi chảy ra. Hắn nói: em xin lỗi chị, em hèn quá chị ơi. Rồi hắn buông tay mạ ra, đi một mạch. Người ta cười, nói thằng Hạnh say lại nhận vơ. Mạ cũng nghĩ rứa.
– Mạ có kể với ai không?
– Kể với ai. Kể cho người ta cười thêm à. – Mạ nhìn con. – Giờ hắn chết rồi.
Một con ruồi đậu lên con cá chỉ vàng. Mạ phẩy tay đuổi, rồi lại để tay yên.
Chiều tối, người ta dựng rạp trước cái lều tôn của ông Hạnh. Ông không vợ, không con, chỉ có một bà chị gái ở xã bên. Rạp là của tổ cứu hộ dựng, bàn ghế là của hội nghề cá cho mượn, tiền mua quan tài do cơ sở thu mua hải sản nhà ông Đạc gửi xuống, một phong bì dày. Ông Đạc không đến được, hai năm nay ông ngồi xe lăn sau trận tai biến, nói không ra tiếng. Con trai ông là Cao Xuân Trác đến thắp ba nén hương, đứng chưa được năm phút, nghe điện thoại rồi đi.
Cẩn thì ở đó suốt. Anh khiêng bàn, căng bạt, đi mượn thêm cái quạt cây cho bà chị ông Hạnh ngồi khóc. Lúc gần chín giờ, khi khách vãn, anh ra ngồi cạnh Mơn ở cái ghế dài kê sát mép lạch.
– Đêm qua ông Hạnh gọi cho em, – Cẩn nói, không nhìn chị. – Gần mười hai giờ. Em đang ngủ. Ông say, nói lè nhè, chửi đổng, rồi khóc. Em nói thôi ông đi ngủ đi, mai em qua. Rồi em tắt máy.
– Ông nói chi?
– Nói chuyện năm đó. Ông nói hoài chuyện năm đó, chị biết rồi. Hai chục năm nay cứ say là ông lôi ra. – Cẩn cúi đầu, xoa hai bàn tay vào nhau. Bàn tay anh to, chai sạn, có một vết sẹo cũ vắt ngang mu tay trái. – Giá đêm qua em chạy ra với ông. Từ nhà em ra đây có năm phút.
– Không phải lỗi của anh.
– Em làm cứu hộ, chị Mơn. Em kéo người ta lên từ biển. Mà ông Hạnh thì em để ông chết cách nhà em năm phút.
Mơn không biết nói gì. Trăng mười sáu tròn và vàng, treo thấp trên rặng phi lao bờ bên kia. Nước đang lên. Con nước đêm nay sẽ đứng lúc một giờ kém mười lăm.
– Cẩn, – chị nói. – Đêm qua ông Hạnh không ngã ở cái cầu ván ni.
Cẩn quay sang nhìn chị.
– Răng chị biết?
– Nước. – Chị chỉ ra lạch. – Ngã ở đây thì ông nằm ở bãi bùn phía nam. Ông nằm trên doi cát bắc là ông đi theo luồng sâu. Luồng sâu thì từ trong Ba Gành chạy ra.
Cẩn nhìn mặt nước rất lâu.
– Chị nói với công an chưa?
– Chưa. Em định mai.
– Chị nói đi. – Giọng anh trầm xuống. – Nếu có ai làm chi ông Hạnh thì chị phải nói.
Chị gật đầu. Cẩn đứng dậy, đi vào rạp, nhặt mấy cái ly nhựa người ta bỏ dưới đất, gom vào một cái bao.
Mơn về nhà lúc mười giờ. Mạ đã ngủ, hoặc giả vờ ngủ, cái đèn ngủ trên bàn thờ bọ vẫn để sáng. Chị ngồi ở hiên, lấy điện thoại ra, định nhắn cho Lịch, rồi lại thôi, vì chị biết Lịch sẽ hỏi: chị chắc không. Mà chị thì chỉ chắc được cái dòng nước.
Mười giờ hai mươi, điện thoại chị đổ chuông. Là Lịch.
– Chị Mơn ngủ chưa? Có chuyện này tôi muốn hỏi chị về con nước đêm qua.
– Em cũng đang định gọi anh.
Đầu dây im một chút.
– Bên pháp y tỉnh vừa gọi về, – Lịch nói, chậm rãi như sợ nói nhanh thì sai. – Trong phổi ông Hạnh có nước lạch, tức là ông còn sống lúc xuống nước. Nhưng ở hai bắp tay ông, chỗ ni nè, – Mơn nghe tiếng anh vỗ lên tay áo mình, – có hai vệt bầm, mỗi bên bốn ngón với một ngón cái. Tức là có người bóp chặt hai tay ông. Mai trên tỉnh cử người xuống. Một ông thiếu tá bên hình sự. Tôi muốn chị gặp ông ấy.
— Hết chương 1 —
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe