Chương 10: Trời tối như mực
Ba bản lời khai nằm cạnh nhau trên mặt bàn, giấy pơ luya mỏng đã ngả vàng, chữ viết tay của cùng một người cán bộ biên phòng. Cả ba bản cùng có một câu giống hệt nhau tới từng dấu phẩy.
"Trời tối như mực, tôi không thấy ai, không nghe tiếng ai khác."
Lời khai của Võ Đức Hạnh, bốn mươi mốt tuổi. Lời khai của Đậu Xuân Tạo, ba mươi tám tuổi. Lời khai của Phan Văn Cẩn, mười chín tuổi. Ngày mười bốn tháng Mười năm 2006.
Doãn đọc to câu ấy lần thứ ba.
– Ba người bám chung một cái phao hai đêm một ngày, – anh nói. – Ba người khác tuổi, khác tính, khác cách nói. Một ông bốn mươi mốt tuổi ít học, một ông thợ máy, một thằng con trai mười chín. Kể lại cùng một đêm mà dùng cùng một câu, cùng chữ "như mực", cùng thứ tự "không thấy ai, không nghe tiếng ai".
– Người lấy lời khai viết theo ý mình? – Hạ hỏi.
– Có thể. Người ta hay làm vậy. – Doãn gõ ngón tay lên tờ giấy. – Nhưng những câu khác trong ba bản thì không giống nhau. Ông Hạnh nói "tàu lật một cái tôi văng xuống". Ông Tạo nói "nước tràn vô buồng máy tôi bơi ra". Chỉ có câu này là giống. Như ba người đã học thuộc nó.
Anh nhớ lại buổi chiều trên tàu Bình An. Cẩn đứng trong buồng lái, nhìn ra cửa lạch: trời tối như mực, không thấy ai.
Sáng hai mươi tám tháng Ba, Doãn đã ngồi hai tiếng ở đồn biên phòng Cửa Cương. Người đồn trưởng bây giờ còn trẻ, năm 2006 mới học cấp hai, nhưng anh ta đã cho người lục kho suốt hai ngày. Anh ta còn gọi được cho người cán bộ trực ban năm ấy, giờ là trung tá ở một đơn vị khác. Người cán bộ ấy nhớ cuộc gọi của ông Lục. Anh ta đã báo lên chỉ huy. Chỉ huy đã cho đối chiếu với ba người sống sót, cả ba nói không, và chủ tàu, người được cả xã coi là ân nhân, cũng nói không. Một ông ngư dân lạ ở tỉnh khác gọi điện, một hai chi tiết lệch giờ, giữa lúc cả đồn đang phải lo cho mấy chục tàu thuyền bị nạn sau bão. Người ta đã tin những người có mặt.
– Không ai sai cả, – Doãn nói với Hạ trên đường về. – Người ta đã làm những gì người ta làm được với những gì người ta được nghe. Chỉ là những gì người ta được nghe đã được soạn sẵn.
Sáng Chủ nhật, hai mươi chín tháng Ba, Phan Văn Cẩn được mời lên trụ sở công an xã, với tư cách người làm chứng. Lần này không phải anh tự đến. Hạ đặt máy ghi âm lên bàn, đọc ngày giờ, đọc tên những người có mặt.
Doãn không vòng vo. Anh kể lại câu chuyện của ông Lục, từng chi tiết: cái nắp hầm, hai người áo cam, cánh tay vẫy, con tàu mắt đỏ mày trắng vớt ba người ở phao lúc trưa mười hai. Rồi anh đặt bảng mực nước của Mơn lên bàn, chỉ vào con số mười hai phân lúc sáu giờ sáng mười ba.
– Ông Đạc không ra khỏi lạch lúc sáu giờ sáng mười ba được. Ông ấy đã ra từ trước. Ông ấy vớt các anh trưa mười hai. Từ trưa mười hai tới mười một giờ trưa mười ba, các anh ở đâu?
Cẩn ngồi im. Hai bàn tay to đặt trên mặt bàn, các ngón tay đan vào nhau, siết lại tới mức khớp trắng bệch. Anh nhìn tờ bảng số, nhìn mãi, như thể những con số ấy là một con sóng đang tới mà anh không còn chỗ nào để chạy.
Rồi anh cúi gục đầu xuống.
– Ở Cồn Rùa, – anh nói. – Ở cái lán lưới cũ nhà ông Đạc.
Anh kể. Giọng anh lúc đầu khàn và đứt quãng, rồi đều dần, như người đã tập nói câu chuyện này trong đầu rất nhiều đêm.
Trưa mười hai, ông Đạc một mình chạy tàu nhỏ ra Hòn Én, vớt ba người. Ba người lên tàu, ông Hạnh khóc, ông Tạo nôn hết nước biển trong bụng ra. Cẩn kể với ông Đạc rằng sáng sớm, lúc trời vừa hửng, cả ba thấy một cái nắp hầm trôi xa xa, có người trên đó, mặc áo cam. Chắc là chú Thuấn với thằng Ngợi, vì hai người đó bám nhau lúc tàu lật.
– Ông Đạc đứng nhìn ra biển rất lâu, – Cẩn nói. – Rồi ông nói sóng còn lớn, tàu nhỏ không chạy vô chỗ đó được, ông sẽ đưa tụi em vô bờ trước rồi báo biên phòng ra tìm. Tụi em tin. Tụi em hai ngày không ăn, lạnh run, có ai nói gì cũng tin.
Ông Đạc không chạy về lạch. Ông chạy về Cồn Rùa, thả neo ngoài khơi chỗ vụng khuất sau đụn cát, chờ trời tối. Mười giờ đêm, ông chèo thúng đưa từng người vào bờ, dẫn vào cái lán lưới của ông. Trong lán có chăn, có gạo, có nồi. Ông nấu cháo cho ba người ăn.
– Rồi ông nói, – Cẩn ngẩng lên, nhìn Doãn. – Ông nói tụi em đã kéo lưới ở Hòn Én hai tháng nay, ai cũng biết dưới đó có cái chi. Ông nói nếu biên phòng ra Hòn Én tìm người, người ta sẽ thấy, người ta sẽ hỏi. Ông nói tàu ra khơi trái lệnh, ba đứa tụi em cũng có tội. Ông nói đồ dưới biển mà giấu đi bán là tội nặng, đứa mô cũng có phần, đứa mô cũng đã cầm tiền. – Anh nuốt khan. – Em có cầm tiền thật. Ông chia cho mỗi người hai triệu sau chuyến tháng Tám. Em đưa bà nội em đi viện.
– Ông ấy dặn các anh khai thế nào?
– Khai đánh cá ở phía nam, không phải Hòn Én. Khai tàu chìm, ba người bám phao, không thấy ai khác. Khai sáng mười ba ông ra vớt. Ông bắt tụi em nói đi nói lại cái câu trời tối như mực, không thấy ai, không nghe tiếng ai, cho tới khi tụi em nói ngủ cũng ra. – Cẩn cười, một tiếng cười méo mó. – Ông hứa cho mỗi người năm chục triệu. Ông hứa cho em một chiếc tàu khi em đủ tuổi làm thuyền trưởng.
– Ông ấy có giữ lời không?
– Năm 2008 em có tàu. Ông nói cho em vay, không lấy lãi, khi mô có thì trả. Em trả được một nửa. Ông không bao giờ đòi.
Doãn để im một lúc. Hạ ghi chép, ngòi bút sột soạt.
– Rồi đêm đó?
Cẩn nhắm mắt.
– Ông Đạc đi bộ về nhà theo bãi, nói sáng sớm quay lại. Ba đứa tụi em nằm trong lán. Ông Hạnh với chú Tạo ngủ như chết. Em không ngủ được. Chừng hai giờ, em ra ngoài đi tiểu. Trăng hạ tuần đã lên, còn sáng. Em thấy dưới mép nước, cách lán chừng trăm mét, có một người đi bộ. Một mình. Đi về phía bắc. Đi khập khiễng, vai đeo một cái túi. – Giọng anh vỡ ra. – Em nhìn dáng là biết. Chú Thuấn. Em đứng đó, em không gọi. Em sợ. Em sợ chú vô lán, chú thấy tụi em, chú biết tụi em đã ở trên bờ từ tối mà không ai đi tìm chú. Em đứng nhìn chú đi cho tới khi khuất sau đụn. Rồi em vô lán nằm, em kéo chăn trùm đầu.
– Anh có thấy anh Ngợi không?
– Không. – Cẩn lắc đầu. – Chỉ chú Thuấn. Một mình.
– Cái túi đó là túi gì? Người từ biển lên, trôi hai ngày trên một tấm nắp hầm, lấy túi ở đâu ra mà đeo?
Cẩn khựng lại một nhịp.
– Em không biết. Túi lưới. Chắc chú nhặt trên bãi. Hoặc trên lán có treo mấy cái túi lưới, chú lấy. Em không biết.
– Sáng ra ông Đạc quay lại thì sao?
– Sáng ra ông chèo thúng đưa tụi em ra tàu, chạy một vòng ngoài khơi, mười một giờ vô lạch. Cả xóm ra đón. – Anh nhìn xuống bàn tay mình. – Em không kể với ai là em thấy chú Thuấn. Kể cả với ông Đạc. Hai mươi năm, anh Doãn. Hai mươi năm em đi cứu người, em kéo bốn mươi mốt người lên khỏi nước, em tưởng như rứa thì đủ. Không đủ. Mỗi lần em đi qua mộ gió của chú, em biết chú không nằm trong đó.
– Sao giờ anh mới nói?
– Vì các anh đã gặp ông Lục. – Cẩn nhìn thẳng vào mắt Doãn. – Và vì em không muốn chị Mơn biết chuyện này từ miệng người khác.
Hạ đọc lại biên bản. Cẩn nghe hết, ký từng trang, ký rất chậm, nắn nót như một đứa học trò.
Lúc anh đứng dậy, Doãn hỏi thêm một câu.
– Đêm mùng ba tháng Ba, ông Hạnh gọi cho anh. Ông ấy nói gì?
Cẩn đứng yên, một tay đặt trên lưng ghế.
– Ông nói ông sẽ đi khai hết. Chuyện cái lán, chuyện mười tám tiếng. Ông nói ông không chịu nổi nữa, người ta sắp bốc mộ chú Thuấn lên, mà chú Thuấn không có trong đó. – Anh dừng lại. – Em bảo ông đi ngủ đi, mai em qua, hai anh em mình cùng đi. Em nói thật, anh Doãn. Em định đi với ông.
– Sao lần trước anh không nói câu đó?
– Vì lần trước em chưa dám nói chuyện cái lán.
Mơn đợi ở sân trụ sở, ngồi trên cái ghế đá dưới gốc bàng. Cẩn đi ra, nhìn thấy chị, khựng lại. Rồi anh đi tới, đứng trước mặt chị, cách hai bước.
Doãn đứng ở cửa, nhìn. Anh không nghe hết những gì Cẩn nói. Anh chỉ thấy Cẩn nói rất lâu, đầu cúi, hai tay buông thõng. Anh thấy Mơn ngồi im, mặt không đổi, cho tới một lúc nào đó chị đưa tay lên che miệng.
Rồi chị nói một câu. Doãn nghe được câu ấy, vì chị nói to.
– Anh thấy bọ em đi mà anh không gọi.
Cẩn quỳ xuống. Ngay trên sân xi măng, trước mặt mấy người dân đang đợi làm giấy tờ. Anh quỳ, cúi đầu, không nói gì nữa.
Mơn đứng dậy, đi ra cổng, lên xe, không ngoái lại.
Tối hôm đó Doãn ngồi một mình trong phòng nhà khách, viết lên một tờ giấy trắng những gì anh vừa nghe, rồi viết những gì anh chưa nghe. Ông Thuấn trôi vào bờ với thằng Ngợi gãy chân. Ông Thuấn nẹp chân cho thằng Ngợi bằng ván sạp. Ván sạp lấy ở đâu? Trên nắp hầm không có ván sạp. Trong lán lưới thì có. Vậy là ông Thuấn đã vào lán. Hoặc đã ở rất gần lán. Mà ba người nằm trong lán không ai biết.
Rồi ông Thuấn bỏ đi một mình, khập khiễng, vai đeo túi, về phía bắc. Để lại thằng con trai mười chín tuổi chân nẹp ván ở đâu đó trên bãi cát. Để lại con dao của mình.
Doãn gạch dưới chữ "một mình" hai lần, rồi đặt bút xuống.
Mười giờ đêm, Mơn gọi.
– Anh Doãn. Có một số lạ vừa gọi cho em. Một người đàn ông. Ông nói ông là Đậu Xuân Tạo. – Giọng chị khô, căng. – Ông muốn gặp em. Một mình em. Bốn giờ rưỡi sáng mai, ở sân lăng Ông xóm Bãi Ngang. Ông nói nếu thấy công an thì ông đi luôn, không bao giờ quay lại.
— Hết chương 10 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe