Chương 14: Nút buộc của bọ
Tới trưa Chủ nhật, cả xóm Bãi Ngang đã đổi câu chuyện mà họ kể cho nhau nghe, nhanh như con nước đổi chiều.
Ông Thuấn không giết ai. Ông Thuấn bị giết. Ông nằm dưới cái lán lưới của nhà ông Đạc hai mươi năm, sọ lún một lỗ tròn. Thằng Ngợi nằm dưới mộ gió do chính ông Đạc chọn chỗ. Con trai ông Đạc thì đứng trên vách cát sáng thứ Bảy, nhìn cái hố, rồi gập người như bị ai đấm.
Không ai còn nói ông Thuấn trốn sang Lào. Bà bán rau ở sạp đối diện mang sang nhà bà Bảo một rổ cải, đặt ở bậc thềm, không gõ cửa, rồi đi. Chị Sen nấu một nồi cháo cá mang qua. Mấy bà già trong xóm tới ngồi với bà Bảo, ngồi im, không ai nói gì, như người ta vẫn ngồi trong đám tang.
Còn trước cái cổng sắt có hai con sư tử đá nhà ông Đạc, từ chiều thứ Bảy đã có người đứng nhìn. Không làm gì, chỉ đứng nhìn. Bà Hiên đóng cổng cả ngày.
Doãn nghe những chuyện đó từ Lịch, gật đầu, không bình luận. Anh ngồi trong phòng làm việc, trước tờ giấy khổ to, nối từng đường mảnh bằng bút chì từ nửa phải sang nửa trái.
Ông Đạc vớt ba người trưa mười hai, giấu họ trong lán, dặn lời khai. Ông Đạc đi bộ về xóm lúc mười giờ đêm, hẹn sáng sớm quay lại. Ông Thuấn và thằng Ngợi trôi vào bờ. Ông Thuấn chết trong lán vì một cú đánh từ phía sau. Thằng Ngợi chết, không rõ vì gì, được chôn ở nghĩa địa. Hai tuần sau, ông Đạc chọn chỗ dựng mộ gió cho ông Thuấn đúng trên chỗ chôn thằng Ngợi. Một năm sau, ông Đạc phá lán, xây kho lùi vào trong. Mười tám năm sau, ông Đạc tai biến, cầm bút bằng tay trái viết được hai chữ cái: T và L.
– Thuấn, – Hạ nói. – Lán.
– Có thể.
Chiều thứ Hai, mùng sáu, Duệ gọi.
– Tôi đo lại vết lún trên sọ ông Thuấn. Đường kính năm phẩy tám phân, gần tròn đều, mép lún vát. Vật gây ra có đầu tròn, phẳng, nặng. Không phải hòn đá, đá không tròn đều như thế. Không phải búa sắt, búa sắt nhỏ hơn. Giống một khúc gỗ tròn, đặc, cầm tay. – Chị dừng một chút. – Anh hỏi người đi biển xem trong lán lưới người ta hay để thứ gì như thế.
Doãn hỏi Lịch. Lịch không cần nghĩ.
– Cái vồ. Vồ gỗ đóng cọc. Lán lưới nào cũng có. Một khúc gỗ lim hay gỗ sến tròn, to bằng bắp chân, có cái cán. Để đóng cọc cắm lưới, đóng cọc neo thúng. Nặng lắm, đàn ông khoẻ mới vung được.
– Giờ còn không?
– Cái vồ của lán năm 2006 thì ai mà biết. – Lịch lắc đầu. – Phá lán thì vồ cũng bỏ đâu đó, hoặc quăng xuống biển.
Sáng thứ Ba, mùng bảy, Doãn lên trạm hải văn. Mơn đang ngồi trước máy tính, làm hồ sơ cho chuyến đi Hòn Én ngày mai. Sở Văn hoá đã gửi công văn cho trạm từ tuần trước: một đoàn khảo sát di sản dưới nước sẽ ra kiểm tra bãi ngầm quanh Hòn Én, nơi có thể có một con tàu đắm cổ. Đoàn cần đặt một máy đo triều tự ghi ở chân Hòn Én trong mười ngày để thợ lặn tính giờ lặn. Trạm cử Mơn đi đặt máy. Tàu chở đoàn là tàu Bình An của Cẩn, vì tổ cứu hộ của xã có hợp đồng hỗ trợ các đoàn công tác trên biển, và vì không ai thuộc vùng nước quanh Hòn Én hơn Cẩn.
Doãn đã nói với chị là anh không yên tâm. Chị đã trả lời rằng chị làm cái nghề này mười bảy năm, đi tàu của bao nhiêu người, và rằng chị muốn được một lần nhìn thấy chỗ bọ chị đã trôi.
Hôm nay anh không nhắc lại chuyện đó. Anh mở máy tính bảng, đưa cho chị.
– Bác sĩ Duệ gửi cho tôi từ hôm mười bốn tháng Ba. Ảnh mấy cái nút buộc trên nẹp chân thằng Ngợi. Hôm đó tôi chỉ kể với chị là có nẹp. Tôi chưa cho chị xem. Tôi nghĩ giờ chị nên xem.
Trên màn hình là một tấm ảnh chụp cận, dưới ánh đèn trắng của phòng giám định. Một dải vải cam đã mục quấn quanh một thanh gỗ đen. Một cái nút. Một vòng tròn rút chặt, rồi một đầu dây vòng ngược lên, vắt ngang qua cổ nút, khoá lại.
Mơn nhìn tấm ảnh. Chị phóng to lên. Rồi chị đặt cái máy tính bảng xuống bàn, rất nhẹ, như sợ làm nó đau.
– Nút của bọ em, – chị nói.
– Chị chắc chứ?
– Ghế đơn, thêm một vòng khoá. – Chị cầm sợi dây dù trên cổ mình lên, chỉ vào chỗ nối. Cùng một cái nút. – Bọ dạy em năm em sáu tuổi, để cột võng. Bọ nói nút ghế đơn thì ai cũng biết, nhưng thêm vòng khoá thì sóng giật cả đêm cũng không tuột. Cả cái xã ni em chưa thấy ai buộc như rứa ngoài bọ với em. Bọ buộc võng, buộc dây neo, buộc bao gạo. Mạ em mở bao gạo bọ buộc phải lấy dao cắt.
Doãn im lặng một lúc lâu.
– Tức là ông Thuấn đã nẹp chân cho thằng Ngợi.
– Bằng ván sạp, bằng áo phao xé ra, bằng con dao của bọ. – Chị nói, giọng run. – Bọ không giết thằng Ngợi. Bọ cõng nó vô bờ, bọ nẹp chân cho nó. Bọ cứu nó.
– Ván sạp lấy ở đâu?
Mơn ngẩng lên.
– Trên nắp hầm không có ván sạp, – Doãn nói. – Ván sạp là ván lót khoang tàu. Lán lưới của chủ tàu thì có, chủ tàu nào cũng để ván dự phòng trong lán. Ông Thuấn nẹp chân thằng Ngợi trong lán, hoặc ngay cửa lán. Nẹp ba nút trên dưới, cẩn thận, mất ít nhất mười lăm hai mươi phút. Trong một cái lán rộng mười lăm mét vuông, nơi có ba người đàn ông đang nằm.
– Cẩn nói ba người ngủ. – Giọng Mơn chậm lại. – Cẩn nói chỉ thấy bọ em đi một mình, ngoài mép nước, cách lán trăm mét.
– Ông Tạo thì nói ông Thuấn chưa bao giờ ra khỏi cái lán.
Hai người nhìn nhau. Ngoài cửa sổ, cái cột gió trắng đỏ đứng yên. Gió tháng Tư đã đổi sang hướng nam, nóng và khô.
– Một trong hai người nói dối, – Mơn nói. Câu chị đã nói ở trụ sở công an sáng hôm gặp ông Tạo.
– Hoặc cả hai người đều chỉ nói một nửa, – Doãn đáp, cũng câu anh đã nói hôm đó. Nhưng lần này anh nói chậm hơn.
Anh đứng dậy.
– Mai chị đi Hòn Én. Tôi sẽ ở lại, chiều mai tôi gặp ông Đạc, có bác sĩ, có luật sư, có anh Trác. Chị đi tàu có đoàn của Sở, có thằng Lũy, có máy bộ đàm. Ba giờ chiều chị gọi về trạm như mọi chuyến công tác. – Anh nhìn chị. – Chị đừng nói gì với ai về cái nút này. Với ai cũng không.
– Em biết.
Sáu giờ sáng thứ Tư, mùng tám tháng Tư, tàu Bình An rời bến Ba Gành, chạy theo con nước lớn qua doi cát cửa lạch, ra biển. Trên tàu có Cẩn, thằng Lũy, hai cán bộ trẻ của Sở Văn hoá, một người mang máy ảnh, một người mang cái hộp nhựa đựng hồ sơ, và Mơn với hai cái thùng đựng máy đo triều.
Biển tháng Tư êm như mặt hồ, xanh đậm, gió nam nhẹ. Mặt trời lên đỏ ối sau lưng Hòn Én, lúc này chỉ là một chấm đen nhỏ ở chân trời. Hai cán bộ trẻ của Sở đứng ở mũi tàu chụp ảnh, cười nói. Thằng Lũy đứng lái. Cẩn ngồi ở đuôi tàu, vá một tấm lưới, không nói chuyện với ai.
Mơn ngồi trên nắp hầm giữa tàu. Chị nhìn mặt nước, nghĩ tới hai người trên một tấm nắp hầm như thế này, một người nằm, một người ngồi ôm người nằm, một cánh tay vẫy.
Chín giờ kém mười lăm, tàu tới Hòn Én. Đó là một hòn đảo đá nhỏ, dài chừng ba trăm mét, phủ cỏ và cây bụi thấp, có một cái vụng nhỏ phía tây khuất gió, đúng như ông Lục tả. Nước quanh hòn xanh trong tới mức nhìn thấy đáy cát trắng ở độ sâu năm sáu mét.
Mơn mất hai tiếng để đặt máy. Chị chọn một tảng đá ở chân hòn, nơi nước không bao giờ cạn, khoan hai lỗ, bắt bu lông, gắn cái giá thép không gỉ, rồi đặt máy đo triều vào giá. Cẩn xuống nước giúp chị, giữ cái giá cho thẳng trong khi chị siết bu lông. Anh làm rất khéo, không nói một lời. Cuối cùng chị buộc thêm một sợi dây bảo hiểm từ máy vào khoen giá, phòng khi bu lông lỏng. Chị buộc bằng cái nút của bọ chị, như chị buộc mọi thứ.
Cẩn đang đứng trong nước tới ngực, cách chị một sải tay. Anh nhìn bàn tay chị thắt cái nút ấy. Anh nhìn rất lâu. Rồi anh quay mặt đi, lặn xuống kiểm tra chân giá.
Mười một giờ, tàu nhổ neo về. Hai cán bộ của Sở mệt, nằm dài dưới mái che phía đuôi tàu ngủ. Lũy đứng lái. Cẩn ngồi ở mũi tàu, quay lưng lại, nhìn về phía đất liền.
Mơn khát. Chai nước của chị đã hết. Chị nhớ trong buồng lái có một thùng nước suối mà Lũy đã chỉ cho chị lúc sáng. Chị đi vào buồng lái.
Lũy cười với chị, chỉ cái thùng dưới gầm bệ. Chị cúi xuống lấy một chai. Khi chị đứng lên, mặt chị ngang với cái la bàn nước gắn trên bệ.
Cạnh cái la bàn, buộc bằng một sợi dây đỏ vào cái đinh, treo một mảnh sứ nhỏ, cỡ hai đốt ngón tay.
Trước hôm nay chị chưa từng bước lên tàu Bình An. Sáng nay chị ngồi ngoài boong, chưa vào buồng lái lần nào.
Bây giờ chị nhìn thấy nó, cách mặt chị một gang tay, đung đưa nhè nhẹ theo nhịp tàu.
Men trắng ngả xanh. Màu lam sẫm vì nằm lâu dưới nước. Trên mặt mảnh sứ là hai chân sau của một con vật đang phi, gân guốc, móng co lên. Phía sau hai chân ấy là một cái đuôi, vẽ bằng một chùm nét mảnh tua ra như lông, bay ngược về phía sau. Và dưới móng chân là mấy đường sóng cuộn, cùng một kiểu cuộn, cùng một nét bút, cùng một màu lam.
Mép vỡ phía trước sắc, không mài, cong theo một đường gấp khúc. Chị không cần tháo sợi dây dù trên cổ mình ra để biết rằng đường gấp khúc ấy khớp với mép vỡ của mảnh sứ chị đã đeo hai mươi năm. Bọ đã mài nhẵn mép mảnh của chị, nhưng mài thì chỉ làm tròn cạnh, không đổi được hình. Chị đã sờ mép mảnh sứ của mình mỗi ngày. Chị biết nó như biết cái răng của mình.
Đó là cái đuôi.
— Hết chương 14 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe