AI Truyện
Nửa con ngựa trên sóng

🔍 Trinh thám

Tờ lịch khoanh đỏ

Nửa con ngựa trên sóng · Chương 2/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Tờ lịch khoanh đỏ

Thiếu tá Lê Sĩ Doãn nhai hết vốc hạt sen khô thứ hai thì xe rẽ khỏi quốc lộ. Gió biển lùa qua cửa kính, mang theo một mùi mà anh chưa bao giờ quen được: mùi cá phơi, mùi rong mục, mùi dầu máy.

– Anh say xe à? – Trung úy Đinh Thị Hạ hỏi, mắt vẫn dán vào cái máy tính bảng.

– Say biển. Chưa thấy biển đã say.

Hạ cười. Cô hai mươi bảy tuổi, người Thạch Hà, lớn lên cạnh sông. Còn Doãn thì sinh ra ở Hương Khê, sau nhà là núi, trước nhà là suối, cả tuổi thơ chưa từng thấy con sóng nào cao quá đầu gối. Hai mươi năm làm hình sự, anh đã xuống không biết bao nhiêu vụ ở vùng biển, và lần nào cũng thấy mình là người lạ.

Bác sĩ pháp y Ninh Thị Duệ gọi lúc xe qua cầu.

– Chết đuối, chắc chắn. Có nước trong phổi, có bọt trong khí quản, còn sống khi xuống nước. Giờ chết khoảng từ nửa đêm tới hai giờ sáng.

– Rượu?

– Có, nhưng không nhiều như cái áo của ông ấy kể. Nồng độ trong máu ở mức người uống vài chén rồi đi lại được. Cái áo thì sũng rượu như ngâm. Ai đó đã tưới lên.

– Còn vết bầm?

– Hai bắp tay. Ngón cái nằm phía trước, bốn ngón phía sau. Tức là người kia đứng đối diện, bóp hai bắp tay ông ấy, ghì xuống. Lực mạnh. Bàn tay to. – Chị dừng một chút. – Móng tay ông ấy gãy hai cái, nhưng tôi không lấy được gì dưới móng. Nước rửa sạch hết rồi.

Doãn cảm ơn, tắt máy, rồi ngồi nhìn hàng phi lao chạy qua cửa kính.

Thiếu tá Trương Công Lịch đón họ ở trụ sở công an xã, một căn nhà hai tầng sơn vàng nhìn ra chợ. Lịch bốn mươi tám tuổi, da sạm, nói chậm, cái kiểu người đã quen nói với ngư dân, những người sẽ bỏ đi nếu mình nói nhanh. Anh kể cho Doãn nghe về ông Hạnh, về tàu Kim Ngư, về cơn bão tháng Mười năm 2006.

– Bảy người ra khơi ngày chín tháng Mười. Tối mười một bão vô sớm, tàu chìm gần Hòn Én. Ba người bám phao, sáng mười ba được chính tàu nhỏ của ông chủ tàu là ông Đạc ra vớt. Bốn người mất tích, sau hai tuần thì thôi tìm, gia đình dựng mộ gió.

– Mộ gió?

– Mộ không có xác. Người mất ngoài biển không tìm được thì người ta nặn hình nhân, mặc áo quần của người đó, chôn như chôn người thật. Cho hồn có chỗ về.

Doãn gật đầu. Anh đã nghe về mộ gió, nhưng chưa từng đứng trước một cái.

Lều của ông Hạnh nằm ở bờ nam lạch, cách cửa lạch chừng năm trăm mét. Bốn cây cọc bạch đàn, mái tôn, vách ván ghép, một cái cầu ván dài ba mét thò ra mép nước. Trong lều có một chiếc giường tre, một cái bếp ga mini, ba cái can nhựa đựng rượu, một can còn đầy. Áo quần treo trên một sợi dây thép. Mùi rượu và mùi người già sống một mình ngấm vào từng tấm ván.

Hạ đeo găng, đi một vòng chụp ảnh. Doãn đứng giữa lều, xoay người thật chậm, như anh vẫn làm. Anh nhìn mọi thứ một lần để biết nó ở đâu, rồi nhìn lần thứ hai để biết cái gì không nên ở đó.

Trên vách, cạnh cái gương nhỏ, treo một tờ lịch năm in một mặt, loại lịch mà các cơ sở buôn bán phát cho khách dịp Tết. Phía trên in dòng chữ của cơ sở thu mua hải sản nhà ông Đạc. Mười hai tháng xếp thành bốn hàng.

Những ngày từ một tháng Giêng tới ba tháng Ba bị gạch chéo bằng bút bi xanh, mỗi ngày một dấu, cẩn thận, không sót ngày nào. Và ở ô ngày mười ba tháng Mười, có một vòng tròn bằng bút đỏ, tô đi tô lại nhiều lần tới mức mực thấm qua giấy.

– Anh Lịch, – Doãn gọi. – Ngày mười ba tháng Mười là ngày chi ở đây?

Lịch bước lại, nheo mắt nhìn.

– Mười ba tháng Mười là ngày ông Hạnh được vớt lên. Nhưng tàu chìm ngày mười một. Mấy nhà có người mất cúng ngày mười một.

– Tức là ông ấy không đếm tới ngày giỗ.

– Không. Mà ông ấy đếm tới làm chi thì tôi chịu.

Doãn tháo tờ lịch xuống, cho vào túi đựng tang vật. Anh gạch thử trong đầu: từ ngày ông Hạnh chết tới ngày mười ba tháng Mười còn hơn bảy tháng. Một người đàn ông nghiện rượu, sống một mình, ngày nào cũng gạch một ô lịch, đếm ngược tới một ngày không phải ngày giỗ.

Điện thoại của ông Hạnh không có trong lều, không có trên người ông. Hạ đã gửi yêu cầu lấy danh sách cuộc gọi từ hôm qua.

Lúc họ bước ra khỏi lều, một người đàn ông mặc áo phao cam đứng đợi ở đầu cầu ván, tay cầm hai chai nước suối.

– Tôi là Cẩn, tổ trưởng cứu hộ của xã. Anh Lịch nói các anh chị xuống. – Anh đưa nước cho Doãn và Hạ. – Có cái này tôi phải nói với các anh trước, kẻo các anh tra ra rồi nghĩ tôi giấu.

Doãn nhận chai nước, không mở.

– Anh nói đi.

– Đêm hôm kia, khoảng gần mười hai giờ, ông Hạnh gọi cho tôi. Ông say. Ông nói chuyện tàu Kim Ngư năm đó, chửi trời chửi biển, rồi khóc. Tôi bảo ông đi ngủ, mai tôi qua. Tôi tắt máy. Nói chừng bốn, năm phút.

– Ông ấy có nói đang ở đâu không?

– Không. Tôi nghe có tiếng máy chạy, tôi tưởng tiếng quạt. Giờ nghĩ lại thì có khi là tiếng máy nén nhà máy nước đá. – Cẩn nhìn sang bờ bắc, về phía cái mái tôn xanh của nhà máy. – Ba Gành.

– Anh làm gì sau khi tắt máy?

– Ngủ. Vợ tôi nằm cạnh. Sáng năm giờ rưỡi người ta gọi tôi ra kéo ông ấy lên. – Anh nói đều đều, nhưng tay bóp cái chai nước tới mức vỏ nhựa kêu răng rắc. – Ông Hạnh với tôi bám chung một cái phao hai đêm một ngày năm đó. Ông lớn hơn tôi hai mươi mấy tuổi, ông ôm tôi cho tôi khỏi lạnh. Giờ ông chết, tôi chỉ muốn biết vì sao.

Doãn nhìn anh ta. Một người đàn ông ba mươi chín tuổi, vai rộng, mặt vuông, mắt hơi sụp, giọng Nghệ đặc mà rõ. Anh để ý vết sẹo cũ vắt ngang mu bàn tay trái của Cẩn, và đôi bàn tay đủ to để ôm trọn một quả bưởi.

– Cảm ơn anh. Có gì tôi sẽ hỏi thêm.

Cẩn gật, rồi đi. Hạ nhìn theo.

– Anh ta tự khai trước.

– Ừ. – Doãn mở chai nước, uống một ngụm. – Người ngay thì hay tự khai trước. Người khôn cũng vậy.

Trạm hải văn Cửa Cương là một khu nhà cấp bốn quét vôi vàng trên gò cát, có cái cột gió sơn trắng đỏ và một ống bê tông thò xuống nước mà Lịch gọi là giếng triều. Trần Thị Mơn đón họ ở cửa phòng máy. Một người đàn bà ba mươi chín tuổi, gầy, tóc cột đuôi ngựa, mặc áo khoác gió màu xanh rêu, trên cổ đeo một sợi dây dù đen với một mảnh sứ trắng nhỏ.

Chị không mời nước, không hỏi han. Chị trải lên bàn một tấm bản đồ khúc lạch in khổ lớn, vẽ bằng bút chì mấy đường cong và mấy con số.

– Đây là luồng sâu, – chị chỉ một đường cong sát bờ bắc. – Đây là lều ông Hạnh, bờ nam. Đêm hôm kia nước đứng lúc mười hai giờ hai mươi, bắt đầu ròng mười hai giờ rưỡi. Rằm, nước cường, ròng mạnh. Một người ngã từ cầu ván nhà ông sẽ dạt vào bãi bùn phía nam, không qua được luồng. Ông nằm trên doi cát bắc nghĩa là ông xuống nước ở chỗ luồng sâu đi qua.

– Mà luồng sâu đi qua Ba Gành.

– Đi sát chân bến Ba Gành. – Chị chấm bút chì vào một điểm. – Tính theo tốc độ chảy, ông xuống nước trong khoảng từ mười hai giờ bốn mươi tới một giờ rưỡi. Sớm hơn thì nước chưa ròng, xác sẽ lừ đừ quanh bến. Muộn hơn thì không kịp ra tới doi trước khi doi cát nhô lên.

– Gió?

– Gió đông bắc cấp hai, không đáng kể với một vật chìm lơ lửng.

Doãn nhìn tấm bản đồ, rồi nhìn chị.

– Chị chắc chứ?

– Em chắc cái dòng nước, – Mơn nói. – Còn chuyện chi xảy ra trên bến thì anh phải đi mà hỏi.

Hạ khẽ cười. Doãn cũng suýt cười.

Trên bức tường cạnh bàn máy treo mấy tấm ảnh lồng khung. Một tấm chụp trạm năm 1998, mái ngói đỏ. Một tấm chụp ống giếng triều bị sóng đánh vỡ năm 2017. Một tấm mới hơn, chụp một nhóm mười mấy người mặc áo phao cam đứng trước cột gió, ai cũng cười. Bên dưới có dòng chữ viết tay: Tổ cứu hộ xã tập đọc bản tin thời tiết biển, tháng Giêng 2026. Mơn đứng giữa. Cẩn đứng ngoài cùng bên phải, cao hơn mọi người nửa cái đầu.

– Cái phao ghi triều của chị kẹt đúng đêm đó, – Doãn nói. – Anh Lịch kể.

– Kẹt từ nửa đêm. Em gỡ ra một cái túi ni lông quấn vào. Mùa ni rác từ chợ trôi ra nhiều lắm. – Chị nhìn anh. – Anh nghĩ có ai cố ý?

– Tôi không nghĩ gì cả. Tôi chỉ hỏi.

Mơn đưa tay lên sờ mảnh sứ trên cổ, một cử chỉ có vẻ như chị làm mà không biết mình làm. Doãn liếc thấy hình vẽ màu lam trên đó, cái đầu một con vật có bờm bay ngược.

– Cha chị đi trên tàu Kim Ngư, – anh nói.

– Bọ em là thuyền trưởng.

– Tôi xin lỗi.

– Hai mươi năm rồi, anh ạ. – Chị gấp tấm bản đồ lại. – Nhưng hôm thứ Hai ông Hạnh ra chợ nắm tay mạ em, nói bọ em không nằm ngoài biển. Rồi đêm thứ Ba ông chết. Em nghĩ anh nên biết.

Bến Ba Gành là một dãy kè đá dài chừng hai trăm mét ở bờ bắc, có ba chỗ đá nhô ra như ba cái gành nhỏ, chỗ tàu thuyền neo lấy đá cây, lấy dầu, đổ cá. Nền bến mới đổ cát vàng san phẳng hồi năm ngoái. Doãn ngồi xổm, bốc một nắm cát, để nó chảy qua kẽ tay. Mịn, vàng, khô. Đúng thứ cát Mơn kể đã dính trong nếp gấp tay áo ông Hạnh.

Nhà máy nước đá có một cái camera gắn trên cột cổng, quay vào khoảng sân trước cổng và một góc bến. Người bảo vệ già lóng ngóng mãi mới mở được đoạn ghi hình đêm hôm kia.

Mười hai giờ hai mươi hai phút. Một người đàn ông nhỏ thó, mặc áo màu sẫm, tay xách một cái chai, đi chậm qua góc khung hình, xiêu vẹo, hướng ra phía đầu kè. Một chân đi ủng, một chân không. Không, hai chân đều đi ủng, chỉ là chân trái lấm cát nên ánh đèn cổng làm nó trông khác màu.

Rồi không có gì nữa. Doãn cho chạy tiếp tới năm giờ sáng với tốc độ gấp tám lần. Không ai đi qua. Không ai đi ra. Góc khung hình chỉ bắt được một mẩu bến, đầu kè nằm ngoài tầm.

– Ai muốn ra đầu kè mà không qua cái camera này thì đi đường nào? – anh hỏi Lịch.

– Đi dưới mép nước, men theo chân kè. Hoặc đi ghe vô.

Tối hôm đó Doãn ở nhà khách của xã, một căn phòng có hai cái giường sắt và một cái quạt trần kêu lạch cạch. Con gái anh gọi video lúc chín giờ, mặt áp sát màn hình.

– Bố ơi, bố ở biển à? Bố cho con xem biển đi.

– Tối rồi, biển đen thui, xem chi.

– Thì cho con nghe.

Anh bước ra hành lang, giơ điện thoại về phía bóng tối, nơi có tiếng sóng vỗ đều đều sau rặng phi lao. Con bé im lặng nghe một lúc rồi nói nghe như tiếng ai thở. Anh cười, bảo con đi ngủ.

Hạ gõ cửa lúc mười giờ, đưa anh tờ danh sách cuộc gọi. Cuộc gọi cuối cùng từ số ông Hạnh lúc hai mươi ba giờ năm mươi hai phút, tới số của Phan Văn Cẩn, kéo dài bốn phút mười hai giây. Sau đó máy ông Hạnh còn bắt sóng thêm bốn mươi phút ở trạm phát sóng phủ khu Ba Gành, rồi tắt hẳn lúc không giờ ba mươi tư phút. Từ đó không bật lại.

– Cẩn nói đúng, – Hạ nói.

– Ừ. Từng phút một.

Doãn nằm xuống, nghe cái quạt trần lạch cạch, nghĩ về tờ lịch có những ngày gạch chéo màu xanh và một ngày khoanh đỏ. Anh ngủ lúc gần một giờ.

Năm giờ hai mươi sáng, điện thoại rung trên mặt bàn. Giọng Lịch gấp hơn mọi khi.

– Anh Doãn. Ông giữ nghĩa địa Cồn Rùa vừa gọi. Đêm qua có người đào mộ gió của ông Trần Văn Thuấn.

— Hết chương 2 —

Mục lục Nửa con ngựa trên sóng

  1. 1Con nước ròng lúc năm giờ9 phút
  2. 2Tờ lịch khoanh đỏ12 phút đọc
  3. 3Ngôi mộ không có ai10 phút đọc
  4. 4Bốn phong bì gửi từ phương Nam10 phút đọc
  5. 5Giản đồ triều tháng Mười10 phút đọc
  6. 6Lửa ở Cồn Rùa10 phút đọc
  7. 7Dưới lớp xi măng9 phút đọc
  8. 8Bát cơm chưa úp10 phút đọc
  9. 9Người vá lưới ở Cửa Gianh11 phút đọc
  10. 10Trời tối như mực10 phút đọc
  11. 11Sân lăng Ông lúc trời chưa sáng9 phút đọc
  12. 12Cái lán đã ra biển10 phút đọc
  13. 13Ba tiếng rưỡi nước ròng10 phút đọc
  14. 14Nút buộc của bọ10 phút đọc
  15. 15Ba mươi lăm cây số về bờ11 phút đọc
  16. 16Chữ viết bằng tay trái10 phút đọc
  17. 17Lời của người thứ ba10 phút đọc
  18. 18Doi cát lúc nửa đêm10 phút đọc
  19. 19Áo phao số một9 phút đọc
  20. 20Hai nửa con ngựa9 phút đọc

Về truyện này

Nửa con ngựa trên sóng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →