AI Truyện
Nửa con ngựa trên sóng

🔍 Trinh thám

Dưới lớp xi măng

Nửa con ngựa trên sóng · Chương 7/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 7: Dưới lớp xi măng

Thầy cúng đốt ba nén hương lúc sáu giờ kém mười lăm, khi mặt trời còn nằm sau một dải mây xám ngoài khơi, và khói hương bay ngược vào đất liền theo gió.

Ông thầy người xóm trên, gầy, đội khăn xếp, mặc áo dài đen đã sờn vai. Ông bày một cái mâm nhỏ trên nóc mộ gió: đĩa xôi, con gà luộc, ba chén rượu, một bộ áo quần giấy màu cam. Ông khấn bằng một giọng đều đều, lên xuống như sóng, xin phép thổ thần, xin phép hồn người nằm đó cho người sống được đụng vào nhà của người chết.

Mơn đứng sau mạ, tay đặt trên vai mạ. Bà Bảo chắp tay, mắt nhắm. Phía sau sợi dây vàng căng quanh khu mộ gió là chừng năm chục người trong xóm, đứng lặng, không ai nói to. Bà Nhự ngồi trên một cái ghế nhựa Cẩn mang ra từ sáng sớm, lưng còng, hai bàn tay đặt trên đầu gối.

Đội của bác sĩ Duệ có ba người, mặc áo bảo hộ trắng, đeo khẩu trang, đứng cạnh một cái bàn gấp bày khay, chổi lông, bay nhỏ, túi đựng mẫu. Duệ năm mươi tuổi, tóc ngắn, đeo kính, nói ít. Chị đã bắt tay bà Bảo khi tới, nắm lâu hơn một cái bắt tay bình thường.

Thầy cúng hoá vàng. Bộ áo quần giấy màu cam cháy bùng lên rồi co lại thành một nắm tro đen.

– Được rồi, – ông thầy nói. – Làm đi.

Bốn người của đội di dời cầm búa tạ và đục bước tới. Lớp vỏ xi măng dày chừng năm phân, quét vôi trắng, nứt chân chim. Tiếng búa đầu tiên vang lên khô khốc trong buổi sáng yên lặng, và Mơn thấy mạ mình giật nảy người như bị đánh. Chị siết vai mạ.

Mất hai mươi phút để đập vỡ cái vỏ. Bên dưới là cái nấm mộ cũ bằng cát pha đất, đã nén chặt sau hai mươi năm. Đội di dời cầm xẻng đào xuống, chậm rãi, cẩn thận, Duệ đứng bên cạnh nhắc từng nhát.

Sâu tám mươi phân thì xẻng chạm gỗ.

Cái quan tài nhỏ, dài chừng một mét hai, làm bằng gỗ thông rẻ tiền, đã mục mất một góc. Khi người ta nhấc nắp lên, mùi đất ẩm và mùi vải mục bốc lên. Bên trong là một hình nhân bằng đất sét, to bằng đứa bé năm tuổi, gương mặt nặn sơ sài, mắt là hai lỗ lõm. Hình nhân mặc một cái áo sơ mi kẻ ô xanh đã bạc gần như trắng, đội một cái mũ cối nhựa vàng, bên cạnh đặt một cái điếu cày ngắn bằng tre.

Bà Bảo nhìn cái áo kẻ ô xanh. Bà bật ra một tiếng như tiếng nấc.

– Cái áo tui may cho anh ấy Tết năm đó.

Hai người đội di dời nhấc cái quan tài nhỏ lên, đặt lên tấm bạt. Thầy cúng lại thắp hương.

Doãn bước tới mép hố. Anh nhìn xuống lòng hố, rồi nhìn về phía chân mộ, chỗ cái hố xiên đêm mùng năm đã sụt cát vào.

– Bác sĩ Duệ, – anh nói. – Tôi muốn đào tiếp ở góc này. Phía chân, phía biển. Đào sâu thêm.

Bốn người đội di dời nhìn nhau. Một người lớn tuổi nhất lắc đầu.

– Lấy quan tài lên rồi là xong rồi anh. Dưới đó có chi nữa đâu mà đào. Đào thêm là đụng vô đất của người ta.

– Tôi chịu trách nhiệm, – Doãn nói. – Đây là quyết định của cơ quan điều tra. Tôi nhờ các anh.

Người lớn tuổi nhìn sang ông thầy cúng. Ông thầy nhìn Doãn một lúc rồi gật đầu, lại thắp thêm ba nén hương, cắm ở góc chân mộ.

Mơn thấy Cẩn, nãy giờ đứng ngoài dây cùng với tổ cứu hộ, lặng lẽ đi vòng ra phía sau, tới đứng cạnh cái ghế của bà Nhự. Anh đặt hai tay lên vai bà. Bà Nhự ngẩng lên nhìn anh, rồi lại nhìn về phía ngôi mộ.

Người ta đào xiên vào chân mộ. Cát ở đó khác cát ở nấm mộ, xốp hơn, lẫn những mảng sẫm màu. Sâu một mét, một mét hai. Duệ bảo dừng xẻng, chuyển sang bay nhỏ.

Một mét ba mươi. Bay chạm vào thứ gì mềm.

Duệ quỳ xuống, cầm chổi lông quét. Một mảnh vải hiện ra, màu cam đã bạc thành màu gạch non, sợi vải mủn như giấy ướt. Rồi chị dừng tay, ngẩng lên nhìn Doãn, và Mơn đứng cách đó ba mét cũng thấy được chị vừa nhìn thấy cái gì.

Một khúc xương. Màu nâu sẫm như gỗ lũa, nằm ngang dưới lớp vải cam.

Có tiếng ai đó ở ngoài dây kêu lên, rồi cả đám đông vỡ ra những tiếng thì thào, tiếng gọi nhau. Lịch giơ tay ra hiệu cho mọi người lùi lại. Đội của Duệ căng thêm một tấm bạt che ba phía.

Mất gần ba tiếng đồng hồ để làm lộ ra hết. Duệ và hai trợ lý làm từng chút một, quét từng lớp cát, chụp ảnh từng bước, đánh số từng mảnh. Mơn đứng ngoài tấm bạt cùng mạ, không nhìn thấy gì, chỉ nghe tiếng chổi lông sột soạt và thỉnh thoảng giọng Duệ đọc một con số cho trợ lý ghi.

Gần mười giờ, Doãn bước ra khỏi tấm bạt. Anh đi thẳng tới chỗ bà Bảo, tay cầm một cái túi ni lông đựng tang vật.

– Thưa bác. Cháu muốn bác nhìn cái này. Bác không cần chạm vào.

Trong túi là một con dao gập đã gỉ đỏ, lưỡi gập vào cán. Cái cán làm bằng sừng trâu, đen bóng, một đầu bịt đồng. Trên mặt cán, dưới lớp gỉ và cát, vẫn đọc được một chữ khắc bằng mũi dao: một chữ T in hoa, nét gạch ngang kéo dài, cong ở hai đầu như hai cái móc câu.

Bà Bảo nhìn cái chữ T ấy. Bà không khóc. Bà đứng im như hoá đá.

– Dao của anh Thuấn, – bà nói. – Cán sừng. Anh ấy tự khắc chữ. Anh ấy không bao giờ đi biển mà không có nó.

Rồi bà ngã quỵ. Mơn đỡ không kịp, cả hai mạ con cùng khuỵu xuống cát.

Ngoài sợi dây vàng, người ta đã nghe thấy. Câu nói truyền đi nhanh hơn gió: dao của ông Thuấn. Rồi một câu khác truyền theo, to hơn, có người khóc khi nói: ông Thuấn về rồi. Ông Thuấn nằm ngay dưới mộ của ông. Hai mươi năm nay ông nằm đó.

Mơn ôm mạ, nhìn qua vai mạ về phía tấm bạt trắng, và trong đầu chị chỉ có một ý nghĩ lặp đi lặp lại như cái kim đĩa hát kẹt: bọ ở đây. Hai mươi năm chị đứng trên chỗ này thắp hương, và bọ ở ngay dưới chân chị. Bọ đã vào được tới bờ. Ai đó đã chôn bọ ở đây. Ai đó đã đặt cái hình nhân đất lên trên bọ, và cả xã đã khóc trước cái hình nhân ấy.

Chị nhìn sang phía bà Nhự. Bà già vẫn ngồi trên ghế nhựa, không nhúc nhích, hai bàn tay nắm chặt hai đầu gối. Cẩn đứng sau bà, hai tay vẫn đặt trên vai bà, mặt anh trắng bệch như người vừa lặn quá sâu.

Duệ ra khỏi tấm bạt lúc mười một giờ rưỡi, cởi khẩu trang, mặt ướt mồ hôi. Chị nói chuyện với Doãn rất nhỏ, ở một góc xa. Mơn chỉ thấy Doãn gật đầu, rồi lại gật đầu, rồi nhìn xuống đất.

Hài cốt được xếp vào thùng bảo quản, đưa lên xe về phòng giám định ở tỉnh. Đội di dời lấp hố tạm. Ông thầy cúng làm thêm một lễ nữa, ngắn, rồi đi.

Chiều hôm đó, người ta kéo tới nhà bà Bảo đông như đám tang. Mang theo hương, mang theo gạo, mang theo phong bì. Ai cũng nói một câu giống nhau: thế là anh Thuấn đã về. Có người khóc. Có người kể lại chuyện ông Thuấn năm này năm kia, một lần ông kéo lưới cứu một thằng bé rơi xuống lạch, một lần ông nhường phần cá cho nhà goá. Bà Bảo ngồi trên giường, lưng dựa tường, gật đầu với từng người như cái máy.

Nhưng cũng có những câu khác, nói nhỏ hơn, ở ngoài sân, quanh ấm chè.

– Rứa là ông Thuấn đã vô tới bờ. Ai chôn ông?

– Mà vô bờ rồi răng không về nhà?

– Ông vô bờ, ông chết, có người chôn. Người chôn biết mà hai chục năm không nói.

– Thằng Hạnh. Hôm trước thằng Hạnh nói ông Thuấn không nằm ngoài biển, cả chợ nghe.

– Rứa thằng Hạnh chôn?

Mơn ngồi ở bậc hiên, nghe hết, không nói gì. Chị nghĩ tới cái hố xiên vào chân mộ. Người đào biết chỗ. Người đào biết đúng góc chân mộ phía biển, chỗ cái hình nhân không nằm, chỗ bọ nằm. Người đào đã đứng ở đây hai mươi năm trước, lúc người ta chôn bọ.

Mà ông Hạnh thì đã chết trước đêm mùng năm.

Tám giờ tối, khách vãn. Doãn đến, một mình, đứng ở cổng không vào, gọi Mơn ra. Hai người đứng dưới gốc cây bàng trước ngõ. Anh có vẻ mệt, mắt trũng sâu.

– Chị ổn không?

– Em không biết. – Chị nhìn anh. – Bọ em bị giết phải không anh?

– Tôi chưa biết. Bác sĩ Duệ cần thời gian. Mai chị ấy làm việc ở phòng giám định. Lấy mẫu của chị với bác Bảo để so ADN, phải mất mấy ngày.

– Con dao thì sao?

– Con dao là của ông Thuấn. Mẹ chị nhận ra. Nhưng con dao chỉ nói con dao ở đó. – Anh dừng một chút. – Chị Mơn, tôi muốn chị đừng nói với ai, kể cả mẹ chị, cho đến khi có kết quả. Những gì tôi sắp nói không phải là kết luận.

Chị đợi.

– Bác sĩ Duệ nói, người này nằm co, nghiêng về bên phải, như được đặt xuống vội. Áo phao còn mặc trên người. Không có quần áo khác ngoài mấy mảnh vải. Không có giày dép. – Anh nói chậm. – Và xương đùi trái gãy.

– Gãy do bão à?

– Chưa biết.

Điện thoại trong túi anh rung. Anh nhìn màn hình, rồi nhìn chị.

– Bác sĩ Duệ. – Anh bấm nghe, đưa lên tai. – Chị nói đi.

Mơn đứng gần, gió đêm lặng, chị nghe được giọng Duệ trong máy, nhỏ nhưng rõ từng chữ.

– Anh Doãn. Tôi vừa làm sạch xong xương chậu với hàm răng. Mào xương chậu chưa liền hết, đầu trong xương đòn còn sụn, răng khôn hàm dưới mới nhú, mặt khớp mu còn gờ của người trẻ. Người này chưa quá hai mươi hai tuổi. – Một khoảng lặng. – Anh nghe tôi không? Người nằm dưới mộ gió ông Thuấn không phải một người đàn ông bốn mươi lăm tuổi.

— Hết chương 7 —

Mục lục Nửa con ngựa trên sóng

  1. 1Con nước ròng lúc năm giờ9 phút
  2. 2Tờ lịch khoanh đỏ12 phút đọc
  3. 3Ngôi mộ không có ai10 phút đọc
  4. 4Bốn phong bì gửi từ phương Nam10 phút đọc
  5. 5Giản đồ triều tháng Mười10 phút đọc
  6. 6Lửa ở Cồn Rùa10 phút đọc
  7. 7Dưới lớp xi măng9 phút đọc
  8. 8Bát cơm chưa úp10 phút đọc
  9. 9Người vá lưới ở Cửa Gianh11 phút đọc
  10. 10Trời tối như mực10 phút đọc
  11. 11Sân lăng Ông lúc trời chưa sáng9 phút đọc
  12. 12Cái lán đã ra biển10 phút đọc
  13. 13Ba tiếng rưỡi nước ròng10 phút đọc
  14. 14Nút buộc của bọ10 phút đọc
  15. 15Ba mươi lăm cây số về bờ11 phút đọc
  16. 16Chữ viết bằng tay trái10 phút đọc
  17. 17Lời của người thứ ba10 phút đọc
  18. 18Doi cát lúc nửa đêm10 phút đọc
  19. 19Áo phao số một9 phút đọc
  20. 20Hai nửa con ngựa9 phút đọc

Về truyện này

Nửa con ngựa trên sóng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →