Chương 5: Giản đồ triều tháng Mười
Kho lưu trữ của trạm là một gian nhà gạch rộng chừng mười lăm mét vuông, không cửa sổ, kê bốn dãy kệ sắt. Trên kệ là những hộp các tông dán nhãn viết tay, xếp theo năm, theo tháng, từ năm 1998. Mùi giấy ẩm và mùi long não đặc quánh.
Mơn đứng ở cửa, không bước vào, đợi Doãn tới.
Anh đến lúc năm giờ bốn mươi, mắt còn đỏ vì thiếu ngủ. Hạ đi theo, mang hộp đồ nghề. Hai người đeo găng, soi đèn pin vào từng kệ.
Mọi hộp đều ở nguyên chỗ, trừ một khoảng trống trên tầng thứ ba của dãy kệ thứ hai. Khoảng trống rộng đúng bằng một hộp. Hai hộp hai bên vẫn nằm yên, nhãn ghi "Tháng 9 năm 2006" và "Tháng 11 năm 2006".
– Hộp tháng Mười, – Mơn nói.
– Chỉ một hộp?
– Chỉ một hộp. Người ta không lục. Người ta biết nó nằm ở đâu.
Doãn soi đèn xuống nền. Kho lát gạch đỏ, phủ một lớp cát mỏng do gió lùa qua khe cửa. Có dấu giày, nhưng mờ, chồng lên nhau, chỉ đủ biết là giày đế cao su, cỡ to. Ổ khoá bị cắt bằng kìm cộng lực, một nhát gọn.
– Ai biết hộp tháng Mười nằm ở đây?
Mơn im một lúc lâu.
– Tháng Giêng, tổ cứu hộ của Cẩn lên trạm tập đọc bản tin thời tiết. Mười hai người. Em dẫn đi một vòng cho biết trạm làm những chi. Tới kho thì có người hỏi trạm còn giữ giản đồ năm bão 2006 không. Em mở hộp cho coi.
– Ai hỏi?
– Cẩn. – Chị nói nhanh, như muốn nói cho xong. – Cẩn hỏi nhỏ, đứng sau mọi người. Cẩn nói hồi đó trôi trên phao, muốn coi cái đêm đó nước ra răng. Em mở ra, Cẩn cầm cuộn giản đồ đêm mười một lên coi rất lâu rồi đặt lại. Nhưng anh Doãn, cả mười hai người đều đứng đó. Ai cũng thấy em để hộp ở đâu.
– Tôi chưa nói gì cả.
– Em biết. Em chỉ nói trước. – Chị quay mặt đi. – Ai từng sống sót qua một đêm như rứa mà không muốn coi.
Doãn ghi chép, không bình luận. Hạ lấy dấu vân tay trên cánh cửa và mấy cái kệ, nhưng Mơn đã nói trước sẽ chỉ có vân tay của chị với ông trạm trưởng.
– Giờ thì mất rồi, – Doãn nói. – Cuộn giấy đó chắc đã thành tro.
– Mất cuộn giấy, – Mơn nói. – Không mất con số.
Chị giải thích trong lúc đi ra phòng máy. Từ năm 1998 tới năm 2010, cuối mỗi tháng trạm phải chép số liệu mực nước từng giờ từ giản đồ ra bảng, gửi bưu điện về đài khu vực ở Vinh. Đài khu vực lưu bản giấy, mấy năm trước đã quét hết thành tệp. Giản đồ thì ghi từng phút, bảng thì chỉ từng giờ, nhưng với những gì chị cần, từng giờ là đủ.
Chị gọi cho một người bạn học cũ làm ở đài khu vực. Chủ nhật, nhưng người bạn đang trực. Mười giờ sáng, trong hộp thư của chị có bốn tệp ảnh quét: bảng mực nước từng giờ tháng Mười năm 2006 của trạm Cửa Cương. Chữ viết tay của ông trạm trưởng cũ đã mất, nghiêng nghiêng, số 7 có gạch ngang.
Mơn in ra, trải lên bàn, cầm bút chì.
Doãn kéo ghế ngồi cạnh. Lịch tới lúc mười giờ rưỡi, mang theo một cái cặp hồ sơ giấy đã ố vàng. Đó là bản sao báo cáo vụ chìm tàu Kim Ngư mà xã lưu từ năm 2006. Trong đó có biên bản lấy lời khai của ba người sống sót và của chủ tàu, do đồn biên phòng lập rồi gửi một bản về xã.
Doãn lật tới lời khai của ông Cao Xuân Đạc, ngày mười bốn tháng Mười năm 2006. Anh đọc to:
– Sau khi bão tan, sáng ngày mười ba, khoảng sáu giờ, tôi cho tàu nhỏ của tôi rời lạch Cương ra khơi tìm người. Khoảng bảy giờ, tôi phát hiện ba thuyền viên bám trên một phao tròn cách bờ khoảng tám hải lý, hướng đông đông bắc. Tôi vớt được cả ba người, chạy tìm thêm trong khu vực đó tới khoảng mười giờ thì quay về, vào lạch khoảng mười một giờ.
Mơn đặt đầu bút chì vào cột ngày mười ba.
– Sáu giờ sáng mười ba, mực nước ở trạm là bốn mươi hai phân trên số không. – Chị lật sang tờ khác, một bản vẽ mặt cắt cửa lạch năm 2006, cũng do trạm đo. – Doi cát ngang cửa lạch năm đó, chỗ nông nhất nằm ở cao độ ba mươi phân. Tức là sáu giờ sáng mười ba, nước trên doi chỉ có mười hai phân.
– Mười hai phân?
– Một gang tay. Con nít lội qua được. Mà sau bão thì sóng dư còn lớn, cửa lạch vỗ trắng. – Chị dò ngón tay theo cột số. – Từ ba giờ sáng tới chín giờ sáng ngày mười ba, nước trên doi chưa lúc nào quá bốn mươi phân. Tàu nhỏ của ông Đạc năm đó em biết, tàu gỗ mười hai mét, ăn nước một mét mốt khi không tải. Sáu giờ sáng, tàu đó không ra khỏi lạch được. Không ai ra được.
Lịch nhíu mày.
– Hồi đó ai cũng tin. Biên phòng cũng tin. Ông Đạc là người ra vớt người, ai mà nghi.
– Không ai nghi cũng phải, – Mơn nói. – Không ai ngồi đọc bảng triều để kiểm tra một người vừa cứu ba mạng.
Doãn nhìn mấy con số. Chúng đứng thẳng hàng, không cảm xúc.
– Mười một giờ vào lạch thì sao?
– Mười một giờ nước trên doi một mét ba. Vào được, vừa sát. – Chị gật. – Cái giờ vào lạch là thật. Biên phòng ghi sổ tàu vào bến là thật. Cái giờ ra lạch thì không.
– Tức là tàu của ông Đạc không ra khỏi lạch lúc sáu giờ sáng mười ba. Nó đã ở ngoài biển từ trước.
– Từ trước ba giờ sáng mười ba, – Mơn nói. – Hoặc từ hôm trước nữa.
– Mà ngày mười hai còn lệnh cấm biển.
– Còn. Lệnh cấm tới trưa mười ba mới gỡ.
Doãn ngả lưng ra ghế. Ngoài cửa sổ, cái cột gió trắng đỏ đứng yên trong buổi trưa không gió.
– Một ông chủ tàu ra khơi trái lệnh để cứu người thì đáng khen chứ có gì phải giấu, – anh nói. – Trừ khi ông ấy không ra khơi để cứu người.
Điện thoại anh rung. Con gái anh gọi, không gọi video, giọng gấp gáp.
– Bố ơi, bài địa lý hỏi vì sao mỗi ngày nước biển lên xuống. Con viết là do gió, cô gạch đỏ.
Doãn nhìn Mơn. Mơn chìa tay ra. Anh đưa điện thoại cho chị.
– Chào con. Cô là bạn bố. Nước biển lên xuống là do mặt trăng kéo. Mặt trăng to lắm, ở xa lắm, mà vẫn kéo được nước biển phồng lên về phía nó. Trăng tròn với trăng non thì mặt trời với mặt trăng nằm thẳng một hàng, hai sức kéo cộng lại, nước lên cao nhất, xuống thấp nhất, người miền biển gọi là nước cường. Còn gió thì chỉ làm nước dềnh thêm một chút thôi. Con viết là do lực hút của mặt trăng và mặt trời nghe.
Đầu dây bên kia im một chút rồi một giọng nhỏ nói cảm ơn cô. Mơn trả điện thoại cho Doãn. Lịch quay mặt ra cửa sổ, cố nhịn cười.
Sáng thứ Hai, Doãn đến nhà ông Đạc. Đó là một ngôi nhà ba tầng ốp đá ở đầu xóm, cổng sắt sơn vàng có hai con sư tử đá. Phía sau là dãy kho lạnh và sân phơi cá rộng như sân bóng, mùi cá tanh nồng át cả mùi biển.
Bà Hiên, vợ ông, sáu mươi ba tuổi, mặc bộ đồ lụa màu mận, đón họ ở cửa với vẻ mặt lo lắng mà lịch sự. Ông Đạc ngồi xe lăn trên hiên tầng một, quay mặt ra biển. Một ông già sáu mươi sáu tuổi trông như tám mươi, nửa mặt bên phải xệ xuống, tay phải để trên đùi co quắp, tay trái đặt trên tay vịn. Mắt ông vẫn sáng.
Doãn ngồi xuống cái ghế đối diện, ngang tầm mắt ông.
– Chào bác. Cháu là Doãn, bên công an tỉnh. Cháu biết bác không nói được. Cháu chỉ hỏi vài câu, bác gật hay lắc là được.
Ông Đạc nhìn anh. Không gật, không lắc.
– Năm 2006, sau cơn bão, bác ra biển tìm người. Bác ra từ hôm mười hai, phải không bác?
Mắt ông Đạc chớp một cái. Tay trái siết lại trên tay vịn.
– Bác vớt ba người ở đâu?
Ông Đạc quay mặt đi.
– Ở Hòn Én? Hay ở Cồn Rùa?
Lúc chữ Cồn Rùa vừa ra khỏi miệng Doãn, ông già bật lên một tiếng trong cổ họng, không thành chữ, một tiếng "ư" kéo dài và vỡ. Tay trái ông buông tay vịn, giơ lên, run run chỉ về phía bắc, về phía đụn cát dài mờ mờ ở cuối bãi biển. Rồi ông khóc. Nước mắt chảy xuống nửa mặt xệ, chảy vào khoé miệng không khép được.
– Đủ rồi.
Cao Xuân Trác đứng ở cửa, tay còn cầm chìa khoá xe.
– Các anh làm gì bố tôi vậy? Bố tôi bị tai biến. Bố tôi không hiểu các anh hỏi gì. Bố tôi nghe chữ nào cũng khóc.
– Ông ấy hiểu, – Doãn đứng dậy. – Ông ấy chỉ về phía Cồn Rùa.
– Ngày nào bố tôi cũng chỉ về phía đó. Kho của nhà tôi ở đó. Nghĩa địa ở đó. Bố tôi nhớ cái kho, nhớ cái nghề. – Trác bước tới, đặt tay lên vai bố, giọng hạ xuống nhưng cứng. – Muốn hỏi bố tôi thì các anh mời luật sư, mời bác sĩ, làm đúng thủ tục. Hôm nay thì mời các anh về.
Doãn nhìn ông Đạc thêm một lần. Ông già đã ngừng khóc, mắt nhìn trừng trừng ra biển, tay trái vẫn giơ lơ lửng, chỉ về phía bắc.
Trên đường về, Hạ nhận được tin từ Vũng Tàu.
– Ông Tạo thuê một phòng trọ gần cảng cá. Chiều thứ Năm, ngày năm, ông trả phòng, nói với bà chủ trọ là về quê có việc gấp. Mang theo một cái ba lô. Điện thoại tắt từ tối hôm đó. Chủ xưởng sửa tàu nói ông xin nghỉ không lương, không nói bao giờ quay lại.
– Về quê, – Doãn nói. – Hai mươi năm không về. Giờ về.
– Mà chưa thấy ai ở đây gặp ông ấy.
– Ông ấy chưa muốn ai gặp.
Đêm thứ Hai, Mơn ở lại trạm làm số liệu muộn. Mười một giờ kém mười lăm, chị bước ra hiên đổ bã chè, và thấy ở cuối bãi biển phía bắc, chỗ đụn Cồn Rùa, một quầng sáng cam đỏ hắt lên nền trời đen. Gió đông bắc đưa về mùi khét của nhựa cháy.
Chị gọi cho Doãn.
– Anh Doãn. Kho nhà ông Đạc ở Cồn Rùa đang cháy.
— Hết chương 5 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe