Chương 1: Con mọt trong bát cơm
Con mọt bò ra từ dưới miếng cà muối, đi một vòng quanh miệng bát rồi dừng lại ở mép, hai cái râu nhỏ quơ quơ như đang chờ người ăn cơm hỏi chuyện.
La Văn Chẩn đặt đũa xuống. Anh không hất nó đi. Anh lấy đầu đũa khều nhẹ cho nó bò lên mặt bàn gỗ, rồi nhìn nó lủi vào một kẽ nứt, mất hút.
– Cậu chê à? – Mụ Khuyên chủ quán đứng ở cửa bếp, tay còn cầm cái muôi. – Ở đây là thế đấy, cậu ạ. Gạo đong ở hiệu Tăng Ký, gạo kho châu bán ra, có mọt là phải. Chê thì nhịn.
– Kho châu bán gạo ra chợ hả bà?
– Thóc cũ thì bán, chứ để làm gì. – Mụ quệt cái muôi vào tạp dề. – Năm nào chẳng thế. Tháng Chín đổi thóc, thóc cũ bán cho Tăng Ký, Tăng Ký xay ra bán lại cho cả trấn. Rẻ hơn gạo nương được dăm đồng một đấu, có điều phải nhặt mọt.
Chẩn gật đầu, cầm đũa lên ăn tiếp. Cơm có mùi kho, cái mùi hăng hắc như chiếu cói để lâu trong buồng kín. Nhưng anh đói. Từ sáng đến giờ anh ngồi trên một chiếc ghe muối, ngược sông Nậm Khoang từ bến Vạn Lộc lên, cả ngày chỉ ăn một nắm xôi với ít muối vừng. Ghe cập bến Đá Ngựa lúc mặt trời đã khuất sau núi, mười hai bao muối được khiêng lên bờ, người lái ghe chỉ cho anh đường đến quán trọ này.
Mụ Khuyên không biết anh là ai. Ở bến người ta chỉ thấy một anh trai trẻ, da đen sạm, mặc áo nâu sờn hai khuỷu, đội cái nón lá đã rách một mép. Không ai nghĩ đó là quan châu mới, người mà cả trấn Đá Ngựa đang dọn đường, quét sân đình chuẩn bị đón vào sáng mai.
Chẩn đã cố ý như thế. Ở phủ thành Tĩnh Biên, anh để người lính trạm hộ tống mang văn bằng, ấn tín và hai rương sách đi đường bộ, đúng ngày giờ đã báo. Còn anh xin đi nhờ ghe muối. Rẻ hơn đi kiệu, mà lại nhìn được sông. Cha anh làm lái đò hai mươi năm, dạy anh từ bé rằng muốn biết một vùng đất thì nhìn cái bến của nó trước.
Bến Đá Ngựa nhìn từ ghe lên là một dải đá xám chạy dài, có một tảng nhô ra giống cái đầu ngựa đang cúi xuống uống nước. Trên bến là dãy nhà sàn, nhà gạch lẫn lộn, mái lợp cỏ gianh với mái ngói âm dương ở sát nhau. Ngay trên bến một quãng, con suối Khuổi Lặn từ trong núi chảy ra đổ vào sông, nước suối trong, nước sông đục, hai dòng chạy song song một đoạn rồi mới chịu hòa vào nhau. Bắc qua suối là một cây cầu ván. Đầu cầu có một quán rượu treo cái đèn lồng giấy đỏ.
Xa hơn, sau dãy nhà trấn, là một quả gò đất đỏ trọc lóc, trên đỉnh có một dãy nhà dài mái cao, cột gỗ to, sàn kê cách mặt đất một quãng. Người lái ghe bảo đấy là kho nghĩa thương của châu, người ở đây quen gọi là kho gò Mít.
– Gò Mít mà không thấy cây mít nào, – Chẩn nói.
– Có, hồi trước có, – người lái ghe đáp. – Chặt hết từ đời ông nội tôi rồi. Chỉ còn cái tên.
Anh ăn hết bát cơm, xin thêm bát canh rau dớn. Mụ Khuyên bưng ra, ngồi xuống ghế đối diện, bắt đầu hỏi những câu mà bà chủ quán nào cũng hỏi khách lạ: quê đâu, lên đây làm gì, đã có vợ con gì chưa. Chẩn trả lời thật một nửa. Quê ở Vạn Xuyên, dưới xuôi, mẹ bán bánh đúc ở bến đò. Lên đây làm việc cho nha châu. Chưa vợ.
– Làm việc cho nha châu thì khổ đấy, – mụ Khuyên tặc lưỡi. – Quan cũ chết từ tháng Chạp, nha môn bỏ không bốn tháng, việc gì cũng dồn lại. Mai quan mới lên, nghe đâu trẻ lắm, mới hai mươi mấy tuổi. Trẻ thế thì biết gì mà làm quan cái châu này.
– Châu này khó làm quan lắm à bà?
Mụ Khuyên chưa kịp trả lời thì cửa quán có người bước vào.
Đó là một người đàn ông trạc ba mươi, gầy, mặc áo cánh chàm bạc màu, quần xắn tới gối. Anh ta không ngồi, chỉ đứng ở bậc cửa, hỏi với vào trong:
– Bà Khuyên, quan mới tới chưa?
– Đã bảo là mai tới! – Mụ Khuyên gắt. – Hỏi ba lần trong ngày rồi đấy, Mộc ạ. Quan tới thì cả trấn biết, chiêng trống inh lên, cần gì hỏi.
Người tên Mộc không đáp. Anh ta đưa mắt nhìn một lượt quanh quán. Có hai người lái buôn quế đang ngồi uống rượu ở góc trong, một ông già ngủ gật trên chõng tre, và Chẩn. Mắt anh ta dừng ở Chẩn lâu hơn một chút, như đang tính xem cái anh học trò áo nâu này là ai. Rồi anh ta quay đi.
Chẩn đã kịp nhìn hai bàn tay người ấy. Thói quen từ bé. Hồi còn theo cha chở đò, ngồi đầu mũi thuyền chẳng có việc gì làm, hai cha con hay đố nhau đoán khách. Ông Nhẫn bảo nhìn mặt thì người ta giấu được, nhìn tay nhìn chân thì không. Người cầm cày có chai ở gốc ngón cái. Người viết chữ có vết mực ở đốt ngón giữa. Người đi chợ phiên về thì dép dính bùn của chợ phiên. Ông còn hay nói: miệng người ta biết nói dối, chứ bùn dưới chân thì không biết.
Hai bàn tay người tên Mộc có bụi trấu bám trong kẽ ngón, mịn và vàng như phấn. Móng tay viền một lớp đất đỏ.
– Anh ấy là ai thế bà? – Chẩn hỏi khi người kia đã đi khuất.
– Thằng Mộc, thủ kho gò Mít. – Mụ Khuyên đứng dậy dọn bát. – Hiền lắm, chẳng làm hại ai, mỗi tội dạo này cứ như người mất hồn. Vợ nó bảo nửa đêm hay ngồi dậy đi ra đi vào. Chắc nợ nần gì.
Đêm ấy Chẩn được xếp ngủ trên gác xép của quán, sát mái gianh. Anh nằm nghe tiếng sông. Sông Nậm Khoang ban đêm nghe khác hẳn sông dưới xuôi. Sông quê anh chảy rì rầm như người kể chuyện, còn sông này réo, nước đập vào chân mỏm Đá Ngựa từng đợt, như có ai cứ đẩy cửa rồi lại thôi.
Anh không ngủ được. Anh nghĩ về bốn tháng nha môn bỏ không, về ông quan cũ chết từ tháng Chạp, về cái anh thủ kho hỏi ba lần trong một ngày xem quan mới tới chưa. Người ta không hỏi ba lần trong một ngày nếu chỉ định chào hỏi.
Trên chòi canh đầu trấn, mõ vừa điểm sang canh ba thì mưa đổ xuống. Không gió báo trước, không sấm. Mưa rơi thẳng xuống mái gianh, nghe như ai đổ một rổ đậu lên mặt nong. Mưa không ngớt. Gần sáng mới nhỏ dần, rồi tạnh hẳn, để lại tiếng nước nhỏ giọt từ mép mái xuống cái chum ngoài sân.
Anh ngủ thiếp đi được một lúc ngắn thì tiếng người dưới bến đánh thức anh dậy.
Không phải tiếng chợ sớm. Tiếng chợ sớm có nhịp, có tiếng rao, tiếng gà vịt. Đây là tiếng người gọi nhau, tiếng chân chạy trên đá, rồi một tiếng đàn bà kêu lên thất thanh. Chẩn xỏ dép, khoác áo, xuống thang.
Mụ Khuyên đã đứng ở cửa, hai tay ôm lấy ngực.
– Thằng Mộc, – mụ nói, không quay lại. – Người ta vớt được thằng Mộc dưới chân Đá Ngựa.
Bến lúc ấy đã đông người. Trời sau mưa trong vắt, mặt trời chưa lên khỏi dãy núi bên kia sông nhưng ánh sáng đã hắt xuống, làm mặt đá ướt bóng như vừa được lau. Dưới chân tảng đá đầu ngựa có một chỗ nước xoáy, rác rều từ suối Khuổi Lặn trôi ra hay mắc lại ở đó. Người ta đã kéo được người lên, đặt nằm ngửa trên một tấm phên tre.
Chẩn len vào. Không ai để ý anh.
Người nằm trên phên đúng là người đàn ông ở cửa quán tối qua. Mặt anh ta trắng bệch, môi thâm lại, tóc bết mấy chiếc lá tre. Áo cánh chàm ướt sũng dính sát vào người. Một bàn chân còn đi dép, một bàn chân trần.
Hai người lính lệ của nha châu đang đứng hai bên, áo nẹp đỏ, tay cầm gậy. Một người đứng tuổi hơn, có hàm râu thưa, đeo cái thẻ bài đồng ở thắt lưng, chắc là cai lệ. Ông ta đưa tay bịt mũi, khom người nhìn qua một lượt rồi đứng thẳng lên.
– Rõ rồi, – ông ta nói to, cho cả bến nghe. – Áo còn hôi mùi rượu. Tối qua uống ở quán bà Thoa đầu cầu Ván, về qua cầu trơn, mưa to, ngã xuống suối, nước cuốn ra đây. Đêm qua mưa thế ai chẳng biết. Khiêng về nhà cho vợ con nó lo.
Có tiếng xì xào. Chỗ cầu Ván mùa mưa năm nào chẳng có người ngã.
Hai người lính cúi xuống định nhấc phên.
– Khoan đã.
Người vừa lên tiếng là một cô gái. Cô vừa từ phía chợ chạy xuống, trên vai còn đeo cái gùi đan bằng mây, trong gùi lấp ló mấy bó lá thuốc. Cô mặc áo chàm ngắn kiểu người Tày, váy chàm dài, tóc quấn khăn. Cô đặt gùi xuống, quỳ một gối bên tấm phên, không hỏi ai.
Chẩn thấy cô làm những việc mà anh chỉ mới đọc trong sách. Cô ghé sát mũi người chết, không phải để ngửi rượu mà để nhìn. Cô banh nhẹ hai bàn tay anh ta ra, lật ngửa lên, nhìn móng. Cô ấn tay lên bụng anh ta một cái. Rồi cô cúi xuống nhìn cái chân còn đi dép.
– Anh ấy không chết đuối, – cô nói, giọng không to nhưng rõ. – Ông Cai cho người đi gọi ngỗ tác nha châu xuống khám đi.
Người cai lệ bật cười.
– Ngỗ tác nha châu? Ngỗ tác nha châu xuống phủ từ đầu tháng Ba, chưa về. – Ông ta chỉ cái gậy về phía cô. – Còn cô, con gái lão Khun bị cách, ai cho cô sờ vào người chết? Cha cô bị đuổi khỏi nha môn vì nói láo trước công đường, cô định nối nghiệp nói láo à?
Cô gái đứng dậy. Mặt cô đỏ lên, nhưng cô không lùi.
– Cha tôi không nói láo.
– Thôi đi, Na. – Một người đàn bà trong đám đông kéo tay cô. – Đừng dây vào.
Hai người lính lại cúi xuống nhấc phên.
Lúc ấy, từ phía trên trấn có một người đi nhanh xuống bến. Người này trạc năm mươi, mặc áo the đen, đội khăn xếp, dáng gầy, lưng hơi còng. Đám đông dạt ra cho ông ta đi. Có người khẽ gọi: thầy Thông.
Ông ta dừng lại cách tấm phên vài bước. Ông đứng nhìn người nằm trên đó, không nhúc nhích. Chẩn đứng gần đủ để thấy hai bàn tay ông ta buông thõng hai bên, các ngón tay co lại rồi duỗi ra, co lại rồi duỗi ra.
– Thằng Mộc, – ông nói khẽ, như chỉ để mình nghe.
– Bẩm thầy, – người cai lệ khom lưng, – say rượu ngã cầu Ván. Con đã xem rồi.
Người được gọi là thầy Thông im lặng thêm một lúc. Rồi ông quay đi, nói, giọng đã khô lại:
– Thế thì khiêng về nhà nó. Sáng nay quan mới nhận ấn, đừng để bến bãi lộn xộn thế này. Dọn cho nhanh.
Chẩn nhìn cái bàn chân còn đi dép.
Đó là một chiếc dép rơm tết, kiểu người ở đây đi mùa mưa, quai buộc vòng qua cổ chân. Đế dép, chỗ gót và chỗ mũi, dính một lớp đất đỏ quánh, đỏ như gạch non, đã bị nước sông làm nhạt đi bên ngoài nhưng trong các kẽ rơm vẫn còn đặc. Đường bến, đường trấn, đường ra cầu Ván, anh vừa đi qua chiều hôm qua, chỗ nào cũng sỏi đen với cát suối. Cả trấn Đá Ngựa chỉ có một chỗ đất đỏ như thế, là quả gò trọc anh nhìn thấy từ trên ghe.
Và tối qua, ở cửa quán, móng tay người này đã viền đất đỏ. Hai bàn tay có bụi trấu. Anh ta hỏi quan mới tới chưa, ba lần trong một ngày.
Hai người lính đã nhấc tấm phên lên ngang hông. Người cai lệ quát đám đông dạt ra. Cô gái tên Na đứng nép bên gùi thuốc, môi mím chặt.
Chẩn bước ra khỏi đám đông, đứng chắn trước tấm phên.
– Đặt xuống, – anh nói.
Người cai lệ trợn mắt nhìn cái áo nâu sờn khuỷu, cái nón rách mép.
– Mày là đứa nào?
Thầy Thông cũng quay lại. Đám đông im bặt, ai cũng muốn xem thằng học trò lạ mặt này sắp bị đánh mấy gậy.
Chẩn tháo cái nón, cầm trong tay.
– Tôi là La Văn Chẩn, – anh nói, – tri châu Hạ Lũng. Người này chưa được khiêng đi đâu cả.
— Hết chương 1 —
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe