Chương 13: Người đàn bà ở Khau Lả
Thầy Thông ngồi xuống cái ghế Chẩn chỉ cho, nhưng chỉ ngồi ghé một nửa, như người sắp phải đứng dậy đi ngay.
– Sáu năm trước, năm Thuận Hữu thứ ba, – ông nói, – là năm kho gò Mít bắt đầu đổi thóc theo cách ấy. Quan châu hồi ấy đã mất rồi, hạ quan không nhắc tên. Hạ quan là người chép sổ. Quan bảo chép số nào thì chép số ấy. Bán ra một giá, mua vào một giá. Thóc cũ đi, thóc mới không về. Hạ quan biết. Hạ quan chép.
Ông nói đều đều, không lên không xuống, như đọc lại một tờ biên bản cũ.
– Đêm mười hai tháng Chín năm ấy, hai chiếc thuyền lớn của Tăng Ký đậu ở bến Sau, chở thóc cũ đi. Ông Pản lái đò đêm, chở muộn một chuyến khách, đi ngang qua thấy. Sáng mười ba, ông ấy ngồi uống nước chè ở bến, nói với mấy người lái đò khác là ông sẽ lên nha trình quan. Ông ấy nói to lắm. Ông Pản xưa nay vẫn thế, cái gì cũng nói to.
Ông ngừng một lát.
– Đêm mười bốn, lều ông ấy cháy.
– Thầy ở đó?
– Hạ quan đến lúc gần sáng, khi lều đã cháy rụi, với tư cách người của nha. – Thầy Thông nhìn xuống hai bàn tay mình đặt trên đầu gối. – Hạ quan đi vòng ra phía bụi lau sau lều. Bà Dín, vợ ông Pản, ngồi trong bụi lau, hai tay bấu nát cả một nắm lá lau. Đêm ấy bà đi đỡ đẻ cho một nhà trong xóm, canh ba mới về. Bà thấy. Bà không nói được câu nào ra hồn, chỉ bám lấy vạt áo hạ quan.
– Thầy làm gì?
– Hạ quan đưa bà ấy ra bến, gọi một chiếc thuyền ngược nguồn, đưa cho người lái thuyền tất cả số tiền hạ quan có trong người, bảo đưa bà lên Khau Lả. Bà có người em gái lấy chồng ở trên ấy. Rồi hạ quan về nha, chép biên bản: ông Pản say rượu làm đổ đèn, vợ ông Pản bỏ đi không rõ tung tích.
Ông ngẩng lên. Lần đầu tiên, Chẩn thấy mắt ông đỏ.
– Ông Khun đứng giữa công đường bảo người chết trước khi lửa cháy. Hạ quan đứng bên cạnh, cầm bút. Tuần sau ông ấy bị cách. Hạ quan vẫn cầm bút.
– Sao bây giờ thầy mới nói?
Thầy Thông im lặng rất lâu.
– Vì thằng Mộc, – ông nói. – Vì hạ quan đã khuyên nó cứ làm như cậu nó làm, cứ chép, cứ im, thì sống. Nó không nghe. Rồi nó chết. Rồi quan lên, quan không ký. Rồi người ta đặt bạc vào gối quan, ngay trong cái nha mà hạ quan giữ chìa khóa hai mươi hai năm. – Ông đứng dậy. – Quan hỏi hạ quan ai đứng sau, hạ quan xin chưa nói. Hạ quan chỉ đoán. Bà Dín thì thấy. Quan đi Khau Lả hỏi bà ấy trước. Rồi quan về, hạ quan sẽ nói những gì hạ quan biết.
Sáng mồng Năm, khi sương còn trắng xóa mặt sông, Chẩn, cô Na và anh Pò lên đường đi Khau Lả.
Na đi trước. Cô thuộc đường này từ bé, thuở còn theo cha đi hái thuốc trên núi. Đường lên Khau Lả là một lối mòn men theo sườn đồi, qua ba con suối, hai con đèo. Có đoạn phải bám rễ cây mà leo, có đoạn đi trong rừng nứa um tùm, ánh sáng xanh lè như ở dưới đáy nước. Anh Pò vác cái gùi đựng gạo, muối, và mấy bộ áo. Quan châu đi giữa, mặc cái áo nâu, chân đi đôi dép rơm mua ở chợ, mồ hôi ướt đẫm lưng áo.
Na để ý quan châu không than một câu. Đến con đèo thứ hai, dốc dựng đứng, cô ngoái lại, thấy anh dừng lại thở, hai tay chống đầu gối. Cô đợi. Anh ngẩng lên, cười, bảo: người dưới xuôi chỉ quen đi đê, cô thông cảm. Rồi anh leo tiếp.
Cô nghĩ đến cha. Cha cô cũng từng đi con đường này, mấy lần, một mình. Những năm sau khi bị cách, cha hay bỏ nhà đi mấy ngày liền, về thì không kể đi đâu. Bây giờ cô mới nghĩ, có khi cha đã đi tìm bà Dín. Có khi cha đã tìm thấy, mà bà không chịu nói. Hoặc bà nói, mà cha không còn ai để nói lại.
Gần tối thì họ tới Khau Lả. Bản nằm trên một lưng đồi, mười mấy nếp nhà sàn quây quanh một gốc đa to. Ruộng bậc thang xếp lớp dưới chân bản, lúa nương đang thì con gái, xanh mướt.
Bà Dín ở một mình trong một gian nhà sàn nhỏ cuối bản, sát bìa rừng. Em gái bà đã mất hai năm trước. Dưới gầm sàn, bà nuôi mấy đõ ong bằng thân cây khoét rỗng.
Bà đang ngồi bên bếp lửa khi Na leo lên cầu thang. Bà gầy, tóc bạc trắng búi gọn, mặt nhăn nheo. Thấy người lạ, bà không đứng dậy, không chào, chỉ ngước đôi mắt đục lên nhìn.
Na ngồi xuống bên kia bếp lửa. Cô không nói gì ngay. Cô mở cái hộp gỗ đồ nghề của cha, lấy tờ giấy gấp tư đã ố vàng ra, trải lên sàn dưới ánh lửa.
– Bà ơi, – cô nói bằng tiếng Tày, – cháu là con gái ông Khun ngỗ tác.
Bà Dín nhìn tờ giấy. Bà không biết chữ. Nhưng bà nhìn nó, rồi nhìn Na, nhìn khuôn mặt cô dưới ánh lửa, nhìn cái hộp gỗ.
– Ông Khun, – bà nói, giọng khàn khàn như lâu ngày không dùng đến. – Ông Khun lên đây ba lần. Lần nào tôi cũng đuổi ông ấy về.
– Sao bà đuổi?
– Vì ông ấy không còn làm quan nữa. – Bà Dín cầm que củi, gạt than trong bếp. – Ông ấy nói với ai? Ông ấy nói ra thì ông ấy chết. Tôi nói ra thì tôi chết.
Na quay ra, gọi quan châu lên.
Anh bước vào, cúi đầu vì mái nhà thấp, ngồi xuống cạnh Na. Anh không mặc áo công phục, không đeo ấn. Anh chỉ chắp tay chào bà Dín như chào một bà cụ hàng xóm.
– Bà ơi, cháu là quan châu Hạ Lũng, – anh nói, chậm rãi, để Na kịp dịch. – Cháu không đến để bắt bà xuống trấn. Cháu đến để nghe. Bà nói hay không, là quyền của bà.
Bà Dín nhìn anh từ đầu đến chân. Rồi bà hỏi Na một câu bằng tiếng Tày.
– Bà hỏi quan bao nhiêu tuổi, – Na dịch.
– Hai mươi sáu.
Bà Dín lắc đầu, lẩm bẩm gì đó. Na không dịch. Bà bảo: trẻ quá, trẻ như thằng Mộc.
Nhưng rồi bà kể.
Đêm mười bốn tháng Chín năm ấy, trăng gần tròn, sáng như ban ngày. Bà đi đỡ đẻ cho nhà con dâu ông hàng thịt ở xóm trên bến, đứa bé ra lúc gần canh ba, con trai, khóc to lắm. Bà về theo lối bờ sông. Gần đến lều thì thấy có ánh lửa. Bà tưởng ông Pản thắp đèn chờ. Rồi bà thấy lửa bốc lên mái.
Có hai người từ trong lều đi ra. Bà nấp vào bụi lau ven đường. Họ đi ngang qua ngay trước mặt bà, cách chừng hai sải tay.
Một người to ngang, cầm bó đuốc. Trăng sáng, bà thấy rõ mặt hắn, mặt có vết sẹo ở cằm.
Na liếc sang quan châu. Anh không động đậy, nhưng cô biết anh cũng vừa nghĩ đến cùng một cái tên. Quách Tư. Vết sẹo ở cằm.
Người kia mặc áo the dài, đội nón lá rộng vành, đi chậm, chắp tay sau lưng. Bà không thấy mặt người ấy, vì cái nón. Nhưng khi người ấy đi ngang qua bụi lau, bà ngửi thấy mùi.
– Mùi gì hả bà? – Quan châu hỏi.
Bà Dín nhắm mắt lại, như đang ngửi lại mùi ấy sau sáu năm.
– Trầu. Trầu têm với quế. Mùi quế nồng lắm. Tôi đỡ đẻ, tôi quen ngửi mùi, mùi gì tôi cũng nhớ.
Người áo the nói với người to ngang một câu. Giọng ông ta trầm, chậm, rõ từng chữ, như giọng người đọc sách cho học trò nghe.
– Ông ta bảo: "Xong rồi thì về, Tư. Đừng chạy. Chạy thì người ta nhìn."
– Người kia trả lời thế nào?
– Hắn bảo: "Vâng, thầy."
Bếp lửa lách tách. Một con ong lạc bay vào nhà, vo ve quanh ngọn lửa rồi bay ra.
– Thầy, – quan châu nhắc lại khẽ.
Đêm ấy họ ngủ lại nhà bà Dín. Na nằm nghe tiếng ong đêm dưới gầm sàn, tiếng gió lùa qua rừng nứa, không ngủ được. Cô biết quan châu cũng không ngủ. Cô nghe anh trở mình mãi.
Sáng mồng Sáu, họ xuống núi. Bà Dín tiễn ra tận gốc đa đầu bản. Lúc chia tay, bà nắm tay Na, nói một câu. Cô Na dịch cho quan châu nghe khi đã đi được một quãng.
– Bà bảo nếu quan cần, bà sẽ xuống. Lần này bà không sợ nữa. Bà già rồi.
Xuống đến trấn thì trời đã tối hẳn. Vừa đến cổng nha, anh Đăm đã chạy ra, thở không ra hơi.
– Quan ơi, Quách Tư! Quách Tư trong ngục sùi bọt mép, co giật, nằm vật ra rồi!
Na chạy trước. Cô chạy qua sân, qua dãy nhà sau, đến cửa ngục. Quách Tư nằm sóng soài trên sàn buồng giam, mặt tím tái, hai tay co quắp, thở khò khè từng hơi ngắn. Bên cạnh hắn là cái bát sành úp sấp, cơm đổ vương vãi.
Cô quỳ xuống, không nghĩ ngợi gì nữa. Cô banh miệng hắn ra, ngửi. Cô quay ra quát anh Đăm:
– Muối! Một bát muối với một gáo nước! Nhanh!
Cô đổ nước muối đặc vào miệng Quách Tư, nghiêng người hắn sang một bên, lấy ngón tay ấn vào cuống lưỡi. Hắn nôn thốc nôn tháo. Cô lại đổ thêm nước muối. Hắn lại nôn. Cô làm đến lần thứ ba, rồi bảo người đi lấy đậu xanh giã nhỏ hòa nước cho hắn uống. Hơi thở hắn chậm lại, đều dần. Mặt bớt tím.
Khi cô ngồi bệt xuống sàn, lau mồ hôi trán bằng ống tay áo, quan châu đã đứng ở cửa buồng giam từ lúc nào. Anh nhìn bát cơm đổ trên sàn.
– Cơm ở đâu ra? – Anh hỏi người lính coi ngục.
Người lính coi ngục lắp bắp.
– Bẩm quan, cơm nhà hắn gửi vào, như mọi hôm. Người ta mang đến cổng. Con không dám nhận ngay, con mang lên hỏi. Thầy Thông xem rồi, bảo cứ mang vào.
— Hết chương 13 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe