AI Truyện
Kho thóc không có mọt

🏯 Cổ đại & cung đấu

Thóc của chủ Lộc vào nồi dân

Kho thóc không có mọt · Chương 10/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 10: Thóc của chủ Lộc vào nồi dân

– Chủ Lộc đập vỡ cái chén men rạn ông ấy quý nhất, – Lịch kể, mặt vẫn còn tái. – Quách Ba bảo thế. Hắn bảo cả đời hắn làm cho chủ Lộc, chưa thấy chủ đập vỡ cái gì bao giờ.

Hôm ấy là hai mươi mốt tháng Sáu. Buổi trưa, lính trạm mang về trả lời của phủ. Sớ của quan châu Hạ Lũng được chuẩn. Kho nghĩa thương gò Mít mở để chẩn cấp, cho dân vay không lãi, thu lại bằng thóc mùa này. Quan châu tự đứng phát, tự chịu trách nhiệm thu. Phát xong, niêm lại kho bằng ấn châu, báo số lên phủ.

Dưới chữ ký của Tri phủ Vưu Khắc Hòa có một dòng phê nhỏ, nét chữ thẳng như thước kẻ, ký tên Nghiêm Cảnh: "Kho đã khám đủ, thóc tốt. Dân đói mà để kho đầy thì phủ có lỗi."

Chẩn đọc dòng ấy hai lần. Anh không biết ông Thông phán viết nó vì thương dân, vì không muốn ai nghi lời chứng của mình, hay chỉ vì ông ta là người thẳng, đã nói kho đủ thì phải hành xử như kho đủ. Có lẽ cả ba. Dù vì gì, ông ta đã đứng chắn trước cửa phòng Tri phủ cho anh.

Tin về đến chợ trước cả khi lính kịp đi báo các bản. Đến tối, Lịch đi gặp Quách Ba, về kể chuyện cái chén.

– Hắn hỏi con có biết trước không, – Lịch nói. – Con bảo con không biết, quan tự viết sớ, tự gửi, không cho con chép. Hắn tin. Hắn bảo: thằng quan này nó buồn bã ngồi trong phòng cả ngày là để viết cái của nợ ấy.

Ngày hai mươi ba, kho gò Mít mở.

Lần này người ta lên gò không phải để xem. Người ta lên gò với cái thúng, cái bao, cái gùi. Mười bốn bản kéo về, mỗi bản đi thành một đoàn, xã trưởng đi đầu, cầm tờ danh sách các hộ do nha châu lập. Có bản phải đi từ hôm trước, ngủ đêm ở sân đình trấn. Người bản Khau Lả xa nhất, đi trọn một ngày đường núi, đến nơi chân ai cũng sưng.

Chẩn đặt ra mấy điều, cho Lịch viết thành cáo thị dán ở cổng nha và cổng kho. Đong bằng đấu quan, cái đấu gỗ mít có dấu phủ, không đong bằng thứ đấu nào khác. Mỗi hộ được vay theo số miệng ăn, người lớn một phần, trẻ con nửa phần, đủ ăn đến lúc gặt lúa nương. Không lãi một hạt. Mùa gặt trả bằng thóc nương, đong bằng chính cái đấu ấy. Xã trưởng đứng ra bảo lãnh cho cả bản, điểm chỉ vào sổ.

Cửa kho mở. Người lính gỡ băng niêm phủ trước mặt các xã trưởng, đọc to lệnh phủ cho mọi người cùng nghe. Thầy Thông đứng ở cửa, lại cầm bó que tre. Lịch ngồi ở bàn, cầm sổ. Cô Na đứng cạnh đống thóc đầu tiên, kiểm từng bao trước khi đổ ra.

Bao đầu tiên khiêng ra là bao hàng ngoài. Thóc cũ, hạt tròn, có mọt. Chẩn cho để riêng những bao hàng ngoài ra một chỗ.

– Thóc cũ này phơi lại, sàng mọt, để cuối mới phát, – anh nói. – Phát thóc trong trước.

Thầy Thông nhìn anh, rồi nhìn những bao thóc chiêm hạt dài người ta vừa khiêng ra từ gian trong, rồi lại nhìn anh. Ông không nói gì. Nhưng Chẩn thấy khóe miệng ông khẽ động, như người cố nén một cái gì đó, không biết là cười hay là thở dài.

Người đầu tiên được đong thóc là một bà cụ người Dao ở bản Sán Pài, lưng còng gần gập đôi. Bà chìa cái gùi ra. Người lính đong năm đấu quan. Bà cụ nhìn những hạt thóc dài vàng óng đổ vào gùi mình, rồi bốc một nhúm lên, đưa sát mắt, rồi nói gì đó bằng tiếng Dao. Cô Na dịch lại:

– Bà ấy bảo, thóc đẹp thế này, bà ấy sống bảy mươi năm chưa được ăn.

Đến trưa, hàng người vẫn dài từ cửa kho xuống tận chân gò. Có những người phụ nữ địu con sau lưng, có những ông già chống gậy, có những đứa trẻ con mười hai mười ba tuổi đi thay bố mẹ ốm. Một số người không đợi về nhà. Họ nhóm bếp ngay dưới chân gò, giã thóc bằng cái cối gỗ mang theo, nấu một nồi cháo, chia nhau ăn. Mùi cháo gạo mới bay lên tận cửa kho.

Chị Ỏm ở Nà Pò cũng đến, dắt theo thằng bé. Thằng bé vẫn đi đôi dép lính, giờ đã bớt rộng một chút. Chị không chìa thúng ra ngay. Chị quỳ xuống, lạy Chẩn một lạy rồi mới đứng lên nhận thóc. Anh không kịp giữ chị lại.

Chị Ngát cũng đến. Chị đứng cuối hàng của xóm Bên Suối, bế cái Gạo trên hông. Đến lượt chị, chị chìa cái thúng ra, nhận thóc, nhưng không đi ngay. Chị nhìn những hạt thóc dài trong thúng, rồi ngước lên nhìn Chẩn.

– Kho đầy thật hả quan?

Chẩn đứng im một lúc.

– Kho đầy được nửa tháng, chị ạ, – anh nói khẽ.

Chị Ngát nhìn anh, không chớp. Rồi chị gật đầu, như người vừa hiểu ra một điều mà chị đã nghi từ lâu. Lúc chị quay đi, cái Gạo trên hông chị ngoái lại, giơ bàn tay bé xíu vẫy vẫy. Chẩn vẫy lại.

Ngày thứ hai, hai mươi bốn tháng Sáu, gần trưa, có người hét lên ở chân gò.

– Thóc độc! Thóc kho có độc!

Hàng người đang xếp hàng xao động. Một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi, người Kinh, ở xóm Cầu Treo đầu trấn, chạy ngược lên dốc, vừa chạy vừa la. Ông ta tên Đào Văn Sửu, làm nghề đan lát, hôm qua đã nhận thóc.

– Nhà tôi ăn thóc kho tối qua, ba đứa con tôi nôn suốt đêm! Thóc mốc! Thóc độc! Quan châu phát thóc độc cho dân!

Có tiếng xôn xao. Một vài người đã nhận thóc bắt đầu đặt thúng xuống, nhìn những hạt thóc dài như nhìn thứ gì lạ. Một bà già run run đổ thóc trong gùi ra lại đống, lẩm bẩm: tôi biết mà, thóc gì mà đẹp thế, thóc quan làm gì có thóc đẹp thế.

Chẩn bước xuống bậc đá ong.

– Anh Sửu, – anh nói, không to tiếng. – Ba cháu đang ở nhà à?

– Bẩm, ở nhà, nằm cả!

– Thế thì tôi với cô Na đến xem ngay. Cô Na biết thuốc. Cháu nào nặng thì mình chữa trước.

Đào Văn Sửu khựng lại một nhịp. Rồi ông ta gật, quay đi trước.

Nhà Sửu ở đầu xóm Cầu Treo, một gian nhà tranh vách đất, sân có cái cối giã gạo và một đống nan tre đang đan dở. Ba đứa trẻ nằm trên cái chõng tre trong nhà, đắp chung một tấm chăn. Thấy người lạ vào, đứa lớn nhất, chừng chín tuổi, ngồi bật dậy, rồi bị bố trừng mắt thì lại nằm xuống.

Cô Na ngồi xuống bên chõng. Cô sờ trán từng đứa, nhìn lưỡi, nắn bụng, hỏi chúng mấy câu bằng giọng nhẹ nhàng. Đứa bé nhất, ba bốn tuổi, nhìn cô một lúc rồi nói:

– Cô ơi, con đói.

Chẩn không nhìn bọn trẻ. Anh đi ra sân.

Cạnh cái cối giã có một cái thúng. Trong thúng là thóc, đầy vặn. Thóc hạt dài, vàng óng, thóc kho phát chiều hôm qua. Mặt thóc phẳng như vừa đong xong, không một vết bốc, không một vết xúc. Trong lòng cái cối giã không có một hạt trấu nào. Dưới chân cối, đất khô, sạch, không có lấy một mảnh vỏ.

Anh đi vào bếp. Trên cái kiềng ba chân có một nồi đất, trong nồi còn non nửa nồi cơm nguội. Anh cầm đôi đũa cả, xới lên một miếng, đưa ra chỗ sáng.

Hạt cơm tròn, mập, dẻo. Cơm gạo nương.

Anh cầm nồi cơm đi ra sân, đặt xuống cạnh thúng thóc. Đào Văn Sửu đứng ở cửa, mặt đã bắt đầu tái đi.

– Anh Sửu, – Chẩn nói. – Thóc kho phát ra là thóc, chưa xay chưa giã. Muốn nấu thì phải giã ra gạo. Thúng thóc của anh còn nguyên, cối nhà anh không có một hạt trấu. Còn nồi cơm tối qua nhà anh ăn là gạo nương hạt tròn. Gạo kho hạt dài, anh nhìn đây.

Anh bốc một hạt thóc trong thúng, bóc vỏ, đặt hạt gạo dài cạnh hạt cơm tròn trên lòng bàn tay, chìa ra.

– Ba đứa con anh không ăn một hạt thóc nào của kho cả. Chúng nó đói, chứ không phải ngộ độc.

Đào Văn Sửu quỳ sụp xuống sân. Đứa con lớn của ông ta chạy ra cửa, nhìn bố quỳ, rồi nhìn quan châu, mặt ngơ ngác.

Người thuê ông ta là Quách Ba. Một quan tiền, và lời hứa xóa món nợ mười hai đấu thóc ở Tăng Ký mà nhà ông ta chưa trả được từ năm ngoái. Chỉ cần đứng ở chân gò mà la lên. Không ai bị đánh, không ai chết, chỉ cần la lên.

Chẩn không cho trói ông ta. Anh chỉ bảo ông ta đi theo mình trở lại gò Mít, đứng ở chỗ ông ta vừa la, nói lại cho mọi người nghe. Nói thật, nói to, nói hết.

Đào Văn Sửu đứng ở chân gò, run giọng nói. Người ta im lặng nghe. Rồi bà già vừa đổ thóc ra lại lật đật đi đến đống thóc, xin đong lại phần của mình. Người lính đong cho bà, đủ năm đấu, không thiếu hạt nào.

Còn Đào Văn Sửu, Chẩn phạt ông ta ở lại gò khiêng bao cho đến khi phát xong. Ba đứa con ông ta, anh bảo cô Na đưa xuống chỗ những người đang nấu cháo dưới chân gò, xin cho mỗi đứa một bát.

Ngày hai mươi lăm, bao thóc chiêm cuối cùng được đong ra. Chín trăm bao thóc chiêm của chủ Lộc giờ nằm trong gùi, trong thúng, trong cối giã của mười bốn bản châu Hạ Lũng. Trong kho chỉ còn lại hơn trăm bao thóc cũ hạt tròn, đã phơi lại, sàng sạch mọt.

Tối hôm ấy, Lịch gõ cửa phòng Chẩn, ba tiếng nhẹ.

– Con vừa gặp Quách Ba, – cậu nói, chưa kịp ngồi. – Hắn không hỏi con chuyện thóc. Hắn ngồi uống rượu một mình, uống hết một bầu. Rồi hắn cười, nói một câu, không biết nói với con hay nói với cái bầu rượu.

– Câu gì?

Lịch ngập ngừng.

– Hắn bảo: kho thì thằng quan giữ được rồi. Từ giờ người ta không đụng đến kho nữa. Người ta đụng đến nó.

— Hết chương 10 —

Mục lục Kho thóc không có mọt

  1. 1Con mọt trong bát cơm11 phút
  2. 2Chiếc dép dính đất đỏ11 phút đọc
  3. 3Ngọn đèn chòi canh11 phút đọc
  4. 4Hai cái đấu nhà Tăng Ký10 phút đọc
  5. 5Chiếc đũa đo đáy đấu11 phút đọc
  6. 6Hộp trầu bạc chạm hoa cúc10 phút đọc
  7. 7Chín trăm bao không có mọt10 phút đọc
  8. 8Những cái đinh không gỉ10 phút đọc
  9. 9Bốn sào ruộng nhà họ Phù9 phút đọc
  10. 10Thóc của chủ Lộc vào nồi dân9 phút đọc
  11. 11Nén bạc trong gối mây9 phút đọc
  12. 12Chữ Lục khắc trên mặt nén9 phút đọc
  13. 13Người đàn bà ở Khau Lả9 phút đọc
  14. 14Hàm răng trắng của thầy Thông9 phút đọc
  15. 15Quyển thi trong chồng quyển hỏng9 phút đọc
  16. 16Bàn tay người cầm lái10 phút đọc
  17. 17Phiên thứ nhất ở phủ thành9 phút đọc
  18. 18Hai phòng, một câu hỏi9 phút đọc
  19. 19Bảy tấm ván9 phút đọc
  20. 20Thóc nương về kho9 phút đọc

Về truyện này

Kho thóc không có mọt là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →