Chương 16: Bàn tay người cầm lái
Đêm mồng Chín, nha châu Hạ Lũng không ai ngủ.
Chẩn gọi tất cả vào phòng mình: cô Na, thầy Thông, Lịch, hai anh em Pò và Đăm. Anh trải lên bàn một tờ giấy, vẽ con sông Nậm Khoang từ bến Đá Ngựa xuống phủ thành, đánh dấu từng thác, từng bến.
– Lịch, – anh nói, – sáng mai cậu đi ngựa trạm theo đường bộ xuống phủ. Đường ngựa hai ngày, nhanh hơn thuyền. Cậu xuống bến phủ, hỏi ghe ông lái Hai ở Vạn Xuyên lên. Mẹ tôi đi ghe ấy. Cậu đón mẹ tôi, đưa bà về nhà trọ, đừng để bà lên bất cứ chiếc thuyền ngược nào. Ai hỏi thì bảo bà là bà con của cậu.
Lịch gật đầu.
– Mẹ tôi tên Đoàn Thị Chắt, – Chẩn nói thêm, rồi ngập ngừng một chút. – Bà thấp, đen, gánh một gánh bánh đúc. Đi đến đâu bà cũng bán. Cậu cứ tìm người nào bán bánh đúc hai đồng một miếng trên bến phủ.
Anh lấy lá thư gói lá chuối khô trong ngực áo ra, đưa cho Lịch.
– Mẹ tôi không tin người lạ. Cậu đọc lá này cho bà nghe, bà mới đi theo cậu.
Rồi anh viết một lá thư dài, gấp lại, gắn xi, đưa cho Lịch.
– Lá này cậu mang đến ngõ Hàng Thùng gần bến phủ, nhà riêng quan Thông phán Nghiêm Cảnh. Đưa tận tay ông ấy. Không qua người nhà, không qua lính.
Trong lá thư ấy, anh kể hết. Túi trấu cát, những vết đinh mới dưới sàn kho, thóc chiêm hạt dài, lời khai của Lịch, nén bạc, hộp quế, đêm mười bốn tháng Chín năm thứ ba. Anh viết rằng anh không xin ông Thông phán tin anh. Anh chỉ xin một điều: khi tù nhân Hạ Lũng tới phủ, xin ông tìm cách để họ được giam dưới quyền của quan Thiêm sự Án sát, không phải ngục của phủ.
– Cô Na, – anh quay sang. – Cô lên Khau Lả đón bà Dín. Đi đường bộ, có anh Đăm đi cùng. Bà già, đi chậm, có khi phải thuê ngựa thồ. Tôi chỉ cần bà tới phủ trước ngày mười tám.
Cô Na gật đầu. Cô không hỏi gì thêm.
– Thầy Thông đi thuyền với tôi. Cả Ngoạn nữa. Anh Pò đi cùng giải tù.
Thầy Thông ngồi im một lúc, rồi hỏi:
– Quan biết hạ quan xuống đó thì hạ quan cũng phải khai tội mình?
– Tôi biết.
– Hạ quan đi.
Sáng mười một, sau một ngày nha châu chuẩn bị giấy tờ, cả trấn ra bến xem quan châu giải tù xuống phủ. Có người nói quan châu bị phủ gọi xuống hạch tội, phen này mất ấn. Có người nói quan châu xuống để kiện lại cả phủ. Mụ Khuyên đứng ở cửa quán, gặp ai cũng kể: tôi đã bảo mà, trẻ quá, trẻ quá.
Chủ Lộc cũng ra bến. Ông ta đứng dưới mái hiên hiệu Tăng Ký, áo lụa nâu, tay chắp trước bụng. Một người làm của ông ta chạy đến chỗ Chẩn, vái một vái.
– Bẩm quan, chủ con bảo ghe Tăng Ký hôm nay cũng xuôi phủ, ghe to, chắc, có mui. Chủ con xin chở giúp quan với phạm nhân, đỡ cho nha phải thuê thuyền.
– Cảm ơn ông chủ, – Chẩn nói. – Nha thuê thuyền rồi.
Nha thuê một chiếc thuyền gỗ dài, mui tre, của một nhà chài ở bến. Thuyền cần một người cầm lái giỏi để qua thác Bà Rền. Sáng sớm, có một người đàn ông chừng ba mươi lăm tuổi đến nha, xưng là lái thuyền ở bến phủ lên, đang chờ chuyến về, xin cầm lái, chỉ lấy nửa giá. Thầy Thông ra hỏi chuyện, thấy hắn nói về các thác dưới sông rành rọt, nên nhận.
Chẩn ra bến, nhìn người lái thuê ấy một lần. Hắn đang đứng ở đuôi thuyền, tay cầm cây sào, chào quan châu rất đúng lễ. Anh không nói gì, chỉ gật đầu.
Rồi anh đi dọc bến, đến chỗ một ông già đang ngồi vá lưới dưới gốc đa. Ông già tên Thản, lái đò bến Đá Ngựa bốn mươi năm, năm nay đã bảy mươi, không chở khách nữa, chỉ ngồi vá lưới thuê.
– Ông Thản, – anh ngồi xuống bên cạnh. – Thác Bà Rền ông qua được không?
Ông già ngẩng lên, cười móm mém.
– Bốn mươi năm, qua không biết bao nhiêu lần. Nhắm mắt cũng qua.
– Thế thì ông đi với tôi chuyến này. Tôi trả gấp ba.
Ông Thản nhìn anh, rồi nhìn về phía chiếc thuyền nha, nhìn người lái thuê đứng ở đuôi.
– Thuyền có người lái rồi còn gì.
– Người ấy không phải lái thuyền, – Chẩn nói khẽ.
Ông Thản nhíu mày, nhìn kỹ hơn. Chẩn không chỉ, nhưng anh biết ông già sẽ thấy cùng một thứ anh đã thấy. Cha anh dạy anh từ năm sáu tuổi: người lái đò thật, lòng bàn tay chai thành một dải dày từ gốc ngón đến cổ tay, chỗ cán sào cán chèo miết vào mỗi ngày, mười năm hai mươi năm. Bàn chân bám mặt ván thuyền như rễ cây bám đá, ngón cái xòe ra. Người đàn ông đứng ở đuôi chiếc thuyền kia có hai bàn tay to, các đốt ngón tay sần sùi, nhưng lòng bàn tay thì nhẵn. Hắn đứng trên ván thuyền mà hai bàn chân khép lại như đứng trên sân gạch, thuyền chòng chành một cái là hắn phải dang tay giữ thăng bằng.
Ông Thản nhìn một lúc, rồi khịt mũi.
– Tay đấm thuê ngoài chợ thì có, – ông nói. – Tay lái đò thì không.
Thuyền rời bến lúc giờ Thìn. Lịch đã đi ngựa từ sáng hôm trước, cô Na và anh Đăm cũng đã lên đường đi Khau Lả. Ông Thản cầm lái. Người lái thuê bị Chẩn bảo xuống ngồi chèo ở khoang giữa, vì quan châu muốn có người lái già quen sông, mà người lái thuê thì khỏe, chèo cho nhanh. Hắn nhìn ông Thản một cái, không nói gì, ngồi xuống.
Quách Tư và Nông Văn Sầm bị xích chân vào hai cái cọc gỗ ở khoang trước. Anh Pò ngồi ngay sau lưng người lái thuê, con dao rựa đặt trên đầu gối. Thầy Thông và Ngoạn ngồi ở khoang sau, cạnh Chẩn.
Ngày đầu, thuyền xuôi êm. Sông Nậm Khoang sau mấy trận mưa đầu thu nước còn to, đục ngầu, chảy xiết. Hai bên bờ là rừng nứa, rừng vầu, thỉnh thoảng có một bản người Tày với những ruộng bậc thang lúa đang ngậm sữa, xanh ngả vàng. Đêm ấy họ ngủ ở một bến nhỏ có trạm dịch.
Ngày thứ hai, mười hai tháng Bảy, gần trưa, ông Thản bảo:
– Sắp đến Bà Rền.
Tiếng thác nghe thấy trước khi nhìn thấy. Một tiếng ầm ì từ xa, như sấm rền dưới đáy sông, rồi to dần, to dần. Lòng sông hẹp lại giữa hai vách đá. Nước bắt đầu chảy nhanh, mặt sông nổi lên những cái xoáy tròn như miệng nồi. Rồi đến chỗ lòng sông đổ dốc. Đá đen nhô lên giữa dòng như những cái lưng trâu, nước đập vào tung bọt trắng xóa.
– Ngồi yên! – Ông Thản quát. – Không ai được đứng dậy!
Ông đứng ở đuôi thuyền, hai chân dạng rộng, hai tay ghì chặt mái chèo lái. Thuyền lao vào luồng nước. Chòng chành. Nghiêng sang trái. Ông Thản ghì mái chèo, thuyền lách qua một tảng đá, gần đến mức Chẩn có thể đưa tay chạm vào rêu trên đá.
Đúng lúc ấy, người lái thuê đứng bật dậy.
Hắn không lao về phía ông Thản. Hắn lao về phía mạn trái, nơi thuyền đang nghiêng, dồn cả sức nặng thân người lên mạn thuyền. Thuyền nghiêng hẳn. Nước tràn qua mạn. Ở khoang trước, Quách Tư bị xích chân hét lên một tiếng.
Anh Pò đã chờ đúng lúc ấy. Anh lao theo, ôm ngang lưng người lái thuê, cả hai ngã nhào xuống lòng thuyền, đè lên nhau. Thuyền bật trở lại. Ông Thản ghì mái chèo, nghiến răng, đưa mũi thuyền vào luồng giữa. Một tảng đá trôi vụt qua bên phải. Rồi một tảng nữa. Rồi nước bắt đầu chậm lại.
Thuyền ra khỏi thác.
Mọi người ngồi im, ướt sũng. Anh Pò vẫn đè người lái thuê dưới lòng thuyền, một gối tì vào lưng hắn. Ngoạn run lẩy bẩy, hai tay bám chặt mạn thuyền. Thầy Thông ngồi bất động, mặt trắng bệch.
Ông Thản thở dốc, đưa tay vuốt nước trên mặt.
– Đấm thuê thì có, – ông lẩm bẩm. – Bơi thì cũng có. Thuyền lật thì nó bơi vào bờ được. Còn người bị xích thì không.
Chẩn quay lại nhìn khoang trước.
Quách Tư ngồi đó, hai chân vẫn xích vào cọc, nước ngập đến bụng. Mặt hắn xám ngoét. Hắn không nhìn ai cả. Hắn nhìn người lái thuê đang bị anh Pò trói tay bằng sợi dây néo mui.
– Mày, – Quách Tư nói, giọng khàn đặc. – Mày là thằng Nhỡ. Thằng Nhỡ đi chợ đấm thuê cho thằng Ba.
Người lái thuê không trả lời.
Quách Tư ngồi im, nước trong khoang thuyền vẫn ngập đến bụng. Thuyền xuôi êm trở lại. Hai bên bờ, rừng vầu lùi dần, nhường chỗ cho những bãi ngô, những ruộng lúa. Chiều xuống, nắng nhạt chiếu xiên qua mui thuyền.
Gần tối, khi thuyền sắp cập bến trạm dịch, Quách Tư gọi Chẩn. Lần đầu tiên hắn gọi bằng hai chữ "bẩm quan".
– Bẩm quan. Em tôi, thằng Ba, nó có biết thuyền này có tôi không?
– Nó biết, – Chẩn nói. – Cả trấn biết.
Quách Tư nhắm mắt lại. Một lúc lâu sau, hắn mới nói, rất khẽ:
– Thế thì nó không còn là em tôi nữa.
Chiều mười bốn tháng Bảy, thuyền cập bến phủ thành Tĩnh Biên.
Bến phủ to gấp mười bến Đá Ngựa. Thuyền buồm, thuyền mui, ghe muối, ghe gạo đậu san sát. Phu khuân vác chạy ngược chạy xuôi, vai gánh lưng cõng. Tiếng rao, tiếng gọi, tiếng cãi nhau, tiếng lợn kêu. Người bán hàng rong ngồi dọc bậc đá, bán bánh, bán nước chè, bán thuốc lào.
Chẩn đứng ở mũi thuyền, nhìn dọc bến.
Anh nhìn thấy Lịch trước. Cậu đứng trên bậc đá cao nhất, kiễng chân vẫy tay. Rồi anh nhìn thấy, ngay dưới chân Lịch, ở bậc đá thứ ba, một người đàn bà thấp, đen, đội cái nón lá cũ, ngồi trước một gánh hàng. Hai cái thúng, một cái phủ lá chuối, một cái để con dao và chồng bát. Bà đang cắt bánh đúc cho một anh phu khuân vác, cắt bằng sợi lạt, từng miếng vuông vức, rưới tương lên.
Bà không nhìn ra sông. Bà đang mải đếm tiền.
— Hết chương 16 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe