Chương 5: Chiếc đũa đo đáy đấu
Sáng mồng Bảy, sân nha châu chật người.
Người ta kéo đến từ giờ Mão, khi lính lệ còn đang quét sân. Dân trấn, dân các bản quanh trấn, cả mấy người lái buôn quế dưới xuôi lên đang ở trọ chờ hàng. Tin quan châu mới cho lính khiêng hai cái đấu của Tăng Ký về nha đã chạy khắp chợ từ chiều hôm phiên chợ. Ở cái trấn này, chưa ai từng thấy ai đụng được vào một hạt thóc của chủ Lộc.
Giữa sân, Chẩn cho kê một cái bàn dài. Trên bàn đặt bốn cái đấu. Hai cái sơn đen viền đồng của Tăng Ký, băng niêm còn nguyên. Một cái gỗ nghiến cũ đã lên nước bóng như sừng, chị Ỏm mang từ Nà Pò xuống. Và một cái đấu gỗ mít, vuông vức, mặt đáy có khắc dấu của phủ Tĩnh Biên, là đấu quan của nha châu, thầy Thông vừa mở kho đồ lễ lấy ra, lau bụi.
Cạnh bàn là hai cái nong to, đầy thóc. Thóc mua ngoài chợ, của mấy bà người Tày, không phải thóc Tăng Ký, không phải thóc kho.
Chủ Lộc ngồi ở bên tả, trên một cái ghế đẩu lính mang ra. Người thư ký đứng sau ông ta. Chị Ỏm quỳ bên hữu, thằng bé quỳ cạnh mẹ, chân đi đôi dép lính còn rộng quá cỡ. Sau chị là hai người hàng xóm bản Nà Pò, một ông già và một bà cụ móm.
Cô Na đứng lẫn trong đám đông, sát hàng rào tre. Chẩn nhìn thấy cô khi bước ra.
Anh không mở đầu bằng văn tự. Anh cho gỡ băng niêm trên hai cái đấu đen, trước mặt chủ Lộc và người thư ký, rồi bảo thầy Thông cầm cái đấu quan.
– Thầy đong cho tôi bốn đấu quan, đổ vào cái đấu cho vay của Tăng Ký. Đong từng đấu, gạt bằng miệng.
Thầy Thông làm. Ông cầm cái que tre gạt ngang miệng đấu quan, đều tay như người đã làm việc này cả đời, rồi đổ sang cái đấu đen. Đấu thứ nhất. Đấu thứ hai. Đổ sang đấu đen đầy thì lại một người lính đổ cái đấu đen ra một cái thúng riêng, rồi đong tiếp.
Người ta đứng xem, chưa hiểu gì.
Bốn đấu quan đổ hết. Người lính đổ được bốn đấu đen đầy, và trong đấu quan cuối vẫn còn gần trọn một đấu.
– Đổ thừa ra đâu thì đong tiếp, – Chẩn nói.
Thừa ra vừa đúng một đấu đen nữa.
Bốn đấu quan thành năm đấu Tăng Ký.
Sân nha bắt đầu có tiếng xì xào, như gió lùa qua bãi lau.
– Bây giờ cái đấu thu, – Chẩn nói. – Thầy đong năm đấu quan, đổ vào đấu thu của Tăng Ký.
Lần này thì người ta nhìn không chớp mắt. Năm đấu quan đổ vào, người lính đong ra được bốn đấu thu, đầy vặn, không thừa một hạt.
Năm đấu quan thành bốn đấu Tăng Ký.
Ông già hàng xóm người Nà Pò đứng sau chị Ỏm thốt lên một câu bằng tiếng Thái, rồi vội lấy tay bưng miệng.
Chẩn chưa nói gì. Anh cầm cái đấu gỗ nghiến của chị Ỏm, đưa cho thầy Thông. Thầy Thông đong năm đấu quan, đổ sang đấu nghiến. Năm đấu quan ra năm đấu nghiến, bằng chằn chặn.
– Đấu nhà chị Ỏm là đấu đúng, – Chẩn nói, rồi quay về phía đám đông. – Chị Ỏm vay hai mươi đấu Tăng Ký. Hai mươi đấu cho vay của Tăng Ký chỉ bằng mười sáu đấu quan. Về nhà chị đong lại được mười sáu đấu, chị tưởng mình đong sai, tưởng con làm đổ dọc đường, chị đánh con.
Thằng bé quỳ cạnh mẹ ngẩng phắt lên.
– Mùa gặt, chị mang trả bốn mươi đấu, đong bằng đấu của nhà mình, là bốn mươi đấu quan. Đến Tăng Ký, đong lại bằng đấu thu, được ba mươi hai. Không phải chị trả thiếu. Đấu thu của Tăng Ký to hơn đấu quan một phần tư.
Chủ Lộc vẫn ngồi trên ghế đẩu, hai tay đặt trên đầu gối. Ông ta không cãi. Ông ta chỉ nói, rất từ tốn:
– Bẩm quan, đấu gỗ đóng lâu năm, gỗ co gỗ giãn, mùa mưa nở, mùa khô co, sai một chút cũng là thường. Đấu của hiệu tôi đã dùng mười mấy năm...
– Gỗ co giãn thì co giãn cả hai cái như nhau, – Chẩn nói. – Không có thứ gỗ nào cho vay thì co lại, thu về thì nở ra.
Có tiếng cười trong đám đông, rồi tắt ngay.
Chẩn rút từ trong ống tay áo ra một chiếc đũa tre. Chiếc đũa anh ăn cơm sáng nay ở nha. Anh dựng chiếc đũa vào trong lòng cái đấu cho vay, sát thành, cho đầu đũa chạm đáy, rồi lấy móng tay cái bấm vào chỗ miệng đấu ngang qua thân đũa. Rồi anh rút chiếc đũa ra, dựng nó áp vào mặt ngoài của đấu, đầu đũa chạm mặt bàn.
Chỗ móng tay bấm thấp hơn miệng đấu đúng hai đốt ngón tay.
– Bên ngoài cao thế này, – anh nói, – bên trong nông thế này. Hai đốt tay ấy đi đâu?
Không ai trả lời.
Anh bảo một người lính lật ngửa cái đấu cho vay lên, lấy mũi dao nhọn lách vào khe giữa đáy và thành. Gỗ kêu cót két. Một tấm ván mỏng bật lên, dày chừng hai đốt ngón tay, gỗ mới hơn hẳn gỗ thành đấu, mặt dưới còn chưa sơn. Bên dưới tấm ván ấy là cái đáy thật, cũ, đã lên nước.
Trên cái đáy thật có khắc một con dấu, mờ nhưng còn đọc được. Dấu đấu quan phủ Tĩnh Biên.
Anh dựng chiếc đũa vào cái đấu thu, rồi áp ra ngoài. Lần này thì ngược lại. Bên trong sâu hơn bên ngoài nhìn thấy gần một đốt tay. Người lính lật ngửa cái đấu thu lên. Đáy đấu bị khoét lõm xuống tận chân đế, chân đế lại đóng thêm một vành gỗ sơn đen che kín, đứng xa nhìn chỉ thấy cái đấu kê trên bốn chân như mọi cái đấu khác. Bốn mặt thành bên trong bị bào mỏng đi, mỏng đến mức gõ vào nghe bộp bộp.
Lần này thì sân nha ồ lên thật. Người ta chen nhau nhìn. Một bà người Tày đứng gần hàng rào nói to bằng tiếng Kinh lơ lớ: đong cho tôi mười hai năm nay, mười hai năm nay!
Chủ Lộc đứng dậy. Ông ta không nhìn cái đấu. Ông ta quay sang người thư ký đứng sau lưng mình, giọng vẫn nhỏ nhẹ nhưng lạnh đi:
– Tôi giao việc đong thóc cho anh mười năm nay. Anh làm cái gì thế này?
Người thư ký mặt tái mét, há miệng ra mà không nói được câu nào. Hắn quỳ sụp xuống.
– Bẩm quan, – chủ Lộc quay lại, chắp tay, – tôi là người buôn bán, việc đong đếm giao cho người làm. Tôi tin người, không ngờ có đứa làm ăn gian dối bôi tro trát trấu vào mặt hiệu tôi. Xin quan cứ xử nó theo phép nước. Còn hiệu tôi, sai đến đâu tôi xin đền đến đấy.
Chẩn nhìn ông ta một lúc lâu. Người thư ký quỳ dưới đất run bần bật. Ông chủ thì đứng thẳng, áo lụa nâu không một nếp nhăn. Chẩn nghĩ đến Quách Tư, đến câu "tôi với thằng Mộc có nợ cờ bạc". Người của Tăng Ký, hễ gặp chuyện là có lỗi riêng của mình. Ông chủ thì chưa bao giờ biết gì.
– Ông Lộc, – Chẩn nói, – tôi xử thế này.
Lịch ngồi ở bàn bên, cầm bút.
– Văn tự của chị Lò Thị Ỏm ghi "đong bằng đấu của hiệu". Đấu của hiệu là đấu gian, thì chữ ấy không có giá trị. Món nợ tính lại theo đấu quan. Chị Ỏm vay mười sáu đấu quan, theo văn tự phải trả gấp đôi, là ba mươi hai. Chị đã trả bốn mươi. Tăng Ký phải trả lại chị tám đấu quan, nhổ hết cọc cắm trên thửa ruộng dưới chân đồi Nà Pò trong ba ngày.
Chị Ỏm vẫn quỳ, mặt cúi sát đất. Vai chị rung lên.
– Hai cái đấu này giữ lại ở nha làm tang vật. Mọi đấu, cân, thúng đong của Tăng Ký phải mang lên nha đối với đấu quan, đúng thì đóng dấu, sai thì đập bỏ. Ai trong châu này đã vay thóc Tăng Ký trong hai năm qua, có văn tự, cứ mang văn tự lên nha, tôi cho tính lại từng người theo đấu quan. Người thư ký đong gian, giữ lại hỏi tiếp. Tăng Ký phạt tiền theo luật dùng đấu gian, mức phạt tôi sẽ định sau khi tính xong số thóc đã đong lệch.
Ông già hàng xóm của chị Ỏm vái Chẩn một cái thật sâu. Mấy người đàn bà đứng cạnh hàng rào nhìn nhau, rồi một người quay đi, chạy ra phía cổng, chắc là về nhà lấy văn tự.
Chủ Lộc nghe xong, chắp tay vái, nói đúng một câu: xin vâng theo lệnh quan. Rồi ông ta lên kiệu.
Nhưng lúc đi ngang qua Chẩn, ông ta dừng lại một bước. Ông ta nói rất khẽ, khẽ đến mức chỉ người đứng sát bên mới nghe được:
– Quan còn trẻ quá. Ở đây trời cao, sông dài, đường lên xuống phủ những bốn năm ngày. Quan giữ sức khỏe.
Rồi ông ta đi.
Chiều hôm ấy, Chẩn ngồi viết công văn gửi phủ Tĩnh Biên. Anh viết đi viết lại ba lần. Lần thứ nhất anh kể hết: cái chết của Hà Văn Mộc, cái túi trấu cát, lời Ngoạn khai về câu "tao không làm nữa". Rồi anh xé đi. Một lá công văn như thế gửi xuống phủ, chưa biết ai sẽ đọc nó trước Tri phủ.
Lần thứ ba, anh chỉ viết mấy dòng ngắn. Hạ quan mới nhận ấn châu Hạ Lũng, theo lệ phải ký nhận kho nghĩa thương gò Mít. Thủ kho vừa mất, sổ kho do người khác giữ, hạ quan không dám ký mù. Xin phủ cử quan xuống cùng khám kho, đếm bao, xiên thóc, có mặt quan phủ thì việc giao nhận mới minh bạch. Xin hoãn hạn ký cho tới ngày khám.
Anh đưa cho Lịch chép lại thành bản sạch.
Thật ra anh đã vào trong kho một lần. Sáng mồng Hai, trước khi dán niêm, anh cùng cô Na mở cửa kho, cầm đèn bước vào. Mùi thóc cũ xộc vào mũi. Bao chồng lên bao, từ sàn lên tận xà ngang, kín như một bức tường, chỉ chừa một lối đi hẹp chừng một người lách. Anh rút con dao nhỏ của cô Na rạch thử ba bao ở hàng ngoài cùng. Thóc thật. Thóc cũ, ngả màu, có mọt, nhưng thóc thật. Muốn biết sau bức tường ấy có gì, phải khiêng ra vài trăm bao. Khiêng ra vài trăm bao thì cả trấn biết. Mà một mình quan châu mới mở kho, tìm thấy trấu với cát, thì người ta sẽ bảo chính quan châu mới tráo.
Phải có người của phủ đứng đó. Phải có người khiêng bao trước mặt hàng trăm người.
Lịch chép xong, đưa lại. Chữ cậu đẹp như in. Chẩn đóng ấn, gấp lại, cho bỏ vào ống tre, gắn xi, giao cho lính trạm đi ngay sáng hôm sau.
Lúc anh ra khỏi phòng thì trời đã nhá nhem. Cô Na đứng ở đầu hồi nhà, chỗ cây khế già. Cô đứng đó có lẽ đã lâu. Trên vai cô vẫn đeo cái gùi mây, trong gùi có mấy bó lá thuốc đã héo.
– Chị Ỏm về rồi chứ? – Chẩn hỏi.
– Về rồi. Chị ấy khóc suốt từ cổng nha ra tới bến. Thằng bé thì không khóc. Nó cứ nhìn đôi dép.
Cô Na ngừng một chút.
– Quan có biết vì sao cha tôi bị đuổi khỏi nha không?
Chẩn lắc đầu.
– Cai lệ bảo cha cô nói láo trước công đường.
– Sáu năm trước, – cô Na nói, – một cái lều ở bến dưới cháy giữa đêm. Người ta lôi ra được một người, là ông lái đò già tên Pản. Nha châu bảo ông ấy say rượu làm đổ đèn. Cha tôi khám xong, đứng giữa công đường nói với quan châu: người này chết trước khi lửa cháy.
Cô nhìn thẳng vào Chẩn.
– Tuần sau, cha tôi bị cách. Ba năm sau thì mất. Còn vợ ông Pản thì biến mất khỏi trấn ngay đêm hôm ấy, không ai biết đi đâu.
— Hết chương 5 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe