Chương 4: Hai cái đấu nhà Tăng Ký
– Măng đắng đây! Măng đắng mới bẻ đây!
– Mật ong rừng, mật ong Khau Lả đây, ai mua mật ong!
Phiên chợ mồng Năm tháng Năm, chợ Đá Ngựa đông từ lúc sương chưa tan. Người các bản đổ về từ ba ngả: ngả sông, ngả suối, ngả đèo. Đàn bà Tày áo chàm gùi măng, gùi chuối, gùi những bó lá dong to như cái nong. Mấy bà người Dao đội khăn đỏ ngồi một dãy riêng, trước mặt bày những gói thuốc lá rừng gói bằng lá chuối khô. Dân trấn người Kinh bán vải, bán kim chỉ, bán muối, bán nồi đồng. Trẻ con chạy lẫn giữa chân người lớn, tay cầm những xiên thịt trâu nướng thơm lừng.
Chẩn mặc lại cái áo nâu sờn khuỷu, đội cái nón rách mép, đi giữa chợ. Lịch đi sau một bước. Cậu thư lại trẻ mặc áo thường, nhưng dáng đi vẫn thẳng như người cầm bút, nhìn là biết.
– Bẩm quan, quan đi thế này nhỡ có người nhận ra...
– Thì người ta biết quan châu đi chợ, – Chẩn nói. – Có gì đâu. Mà gọi tôi là anh thôi, ở đây đông người.
Lịch đỏ mặt, gật đầu. Cậu là người trấn Đá Ngựa, cha làm thư lại nha châu, mất năm cậu mười bốn tuổi. Mẹ cậu ở nhà nuôi một đứa em gái, làm mấy sào ruộng ở cánh đồng dưới trấn. Cậu học chữ ở lớp cụ Tô từ năm bảy tuổi, chữ đẹp nhất lớp, mười tám tuổi được nhận vào nha làm chân chép sổ. Mấy hôm nay theo quan châu, cậu chép không sót một câu, lại thuộc tên từng bản, từng xã trưởng, từng con suối. Chẩn quý cậu ngay từ hôm đầu.
Họ dừng ở một gánh bán bánh. Bánh gio gói lá dong, màu vàng trong như hổ phách, bà bán bánh chấm với mật mía.
– Bao nhiêu một cái hả bà?
– Hai đồng, cậu ạ.
Chẩn mua hai cái, đưa Lịch một cái. Anh vừa ăn vừa hỏi chuyện. Bà bán bánh kể, giáp hạt năm nay đói hơn năm ngoái. Lúa nương còn phải bốn tháng nữa mới gặt. Ngô thì mới trổ cờ. Nhà nào hết thóc thì xuống Tăng Ký vay.
– Kho châu không cho vay à bà?
Bà bán bánh nhìn anh như nhìn một người từ trên trời rơi xuống.
– Kho châu? Kho châu chỉ có thóc mốc, năm nào cũng phải bán đi đổi thóc mới. Mười năm nay tôi chưa thấy kho châu mở cho ai vay một hạt nào. Muốn vay thì xuống Tăng Ký, vay một trả hai.
Hiệu Tăng Ký ngày chợ phiên còn đông hơn ngày thường. Gian mặt tiền bán muối, người xếp hàng mua từng gói, từng bát. Muối trắng, hạt to, đựng trong những cái thùng gỗ sơn đen. Ở mạn ngược này muối quý như bạc, không có muối thì không muối được măng, không làm được thịt treo gác bếp.
Nhưng Chẩn không đứng ở gian muối. Anh đi vòng ra sau, theo một dãy người đang đứng chờ ở cái sân lát gạch phía sau hiệu.
Đó là những người đi vay thóc. Đàn ông, đàn bà, có cả mấy đứa trẻ con đi thay bố mẹ ốm. Mỗi người ôm một cái thúng hoặc một cái bao tải không. Ở đầu hàng, sát cửa kho, có một cái bàn gỗ dài. Sau bàn là một người thư ký của Tăng Ký, trước mặt là một quyển sổ, một cái bàn tính và một hộp mực đỏ để người ta điểm chỉ. Cạnh bàn là một người làm công đứng bên một đống thóc, tay cầm một cái đấu gỗ.
Người làm công xúc thóc vào đấu, lấy cái que gạt ngang miệng đấu cho bằng, rồi đổ vào thúng của người đi vay. Một đấu. Hai đấu. Ba đấu. Thư ký ghi vào sổ. Người đi vay ấn ngón tay cái vào hộp mực đỏ rồi ấn xuống trang giấy.
Chẩn đứng nhìn một lúc.
Cái đấu ấy sơn đen bóng, bốn mặt vuông vắn, miệng viền một nẹp đồng. Cạnh đống thóc, dưới gầm bàn, còn một cái đấu nữa, giống hệt, cũng sơn đen, cũng viền đồng. Cái thứ hai không ai dùng.
– Lịch, – anh nói khẽ, – cái đấu dưới gầm bàn ấy để làm gì?
– Bẩm anh, đấu thu. Mùa gặt người ta mang thóc đến trả, thì đong bằng cái ấy. Đấu cho vay với đấu thu là hai cái riêng, để khỏi lẫn sổ.
– Hai cái giống hệt nhau, sao phải để riêng?
Lịch ngớ ra, không trả lời được.
Đúng lúc ấy, một người đàn bà đứng gần đầu hàng nói to:
– Đong thế này thì một đấu được nửa nồi à? Năm ngoái tôi vay cũng cái đấu này mà nhà tôi ăn được lâu hơn.
Người thư ký không ngẩng đầu lên.
– Thì năm ngoái nhà chị ăn ít. Có vay không thì bảo, không vay thì ra chỗ khác cho người sau.
Người đàn bà im bặt, chìa thúng ra.
Lúc Chẩn quay đi, người thư ký Tăng Ký mới ngẩng lên. Hắn nhìn thấy Lịch đứng sau lưng anh. Hắn cười, giọng thân mật:
– Ơ, cậu Lịch đi chợ đấy à? Về bảo bà cụ là tháng này nhớ ghé hiệu nhé, chủ Lộc nhắc đấy.
Lịch đỏ bừng mặt, cúi đầu, bước vội theo Chẩn. Chẩn không hỏi gì. Anh nghĩ một người trẻ, nhà nghèo, mẹ góa con côi, ở cái trấn này thì nhà nào chẳng có lúc phải đến Tăng Ký.
Về đến cổng nha thì đã quá trưa. Cái trống kêu oan treo ở cổng nha, cái trống da trâu đã bạc màu, đang có người đánh. Không phải đánh rộn ràng như trống hội, mà đánh từng tiếng một, cách nhau rất lâu, như người đánh không chắc mình có được phép đánh hay không.
Người đánh trống là một người đàn bà chừng ba mươi tuổi, mặc áo cóm người Thái, váy đen, tóc búi cao. Bên cạnh chị là một thằng bé chừng tám tuổi, gầy, tay bám chặt lấy vạt váy mẹ. Thấy lính lệ chạy ra, chị đặt dùi trống xuống, quỳ sụp xuống đất, giơ một tờ giấy lên ngang đầu.
– Bẩm quan... con xin quan xét cho...
Chẩn bước tới, đỡ chị dậy. Chị không biết người đàn ông áo nâu này là ai, cứ cúi đầu chìa tờ giấy ra. Lịch nhận lấy, đọc lướt rồi trình lên.
Tờ đơn do một thầy đồ ở bản Nà Pò viết hộ, chữ nguệch ngoạc. Người đứng đơn tên Lò Thị Ỏm, góa chồng, ở bản Nà Pò. Tháng Ba năm ngoái, chị vay của hiệu Tăng Ký hai mươi đấu thóc, cầm thửa ruộng bậc thang dưới chân đồi, hẹn mùa gặt trả bốn mươi đấu. Tháng Mười, chị gánh thóc nương đến trả. Chị đã đong ở nhà, đúng bốn mươi đấu, có hai nhà hàng xóm đứng xem. Đến Tăng Ký, người ta đong lại bằng đấu thu, chỉ được ba mươi hai. Còn thiếu tám đấu. Tăng Ký bảo thiếu thì tính lãi, lãi chồng lãi, đến tháng Tư năm nay thành ba mươi đấu. Không trả được, theo văn tự, thửa ruộng về tay Tăng Ký. Hôm mồng Một tháng này, người Tăng Ký đã lên Nà Pò cắm cọc.
– Nhà chị đong bằng đấu gì? – Chẩn hỏi.
Chị Ỏm ngẩng lên, nhìn anh, rồi nhìn Lịch.
– Đấu nhà tôi, của ông cụ để lại. Đấu đẽo bằng gỗ nghiến, ông tôi đem lên nha châu đối với đấu quan từ hồi tôi còn bé.
– Đấu nhà chị còn không?
– Còn. Ở nhà.
– Chị vay hai mươi đấu, về nhà chị có đong lại không?
Chị Ỏm nghĩ một lúc.
– Có. Đổ ra nong, đong lại để chia ăn cho đủ tháng. Được mười sáu đấu với một ít. Tôi tưởng mình đong sai, hay thóc rơi dọc đường. Thằng bé này còn khóc vì đi đường làm đổ thóc, tôi đánh nó.
Thằng bé ngước lên nhìn mẹ, rồi lại cúi xuống.
Chẩn gấp tờ đơn lại.
– Lịch, gọi lính. Bốn người. Đến ngay Tăng Ký, mang cả hai cái đấu về đây, đấu cho vay với đấu thu. Bảo họ dán giấy niêm lên ngay tại chỗ, có người Tăng Ký điểm chỉ làm chứng. Đi ngay, đừng để ai kịp động vào.
Lịch đứng sững một lúc. Rồi cậu chạy đi.
Chẩn quay sang chị Ỏm.
– Chị về nhà, mang cái đấu của ông cụ lên đây. Mang cả hai nhà hàng xóm hôm ấy đứng xem đong thóc. Ngày mồng Bảy, giờ Tỵ, tôi xử.
Chị Ỏm nhìn anh chăm chăm. Lúc ấy chị mới nhìn thấy cái áo công phục treo trên giá trong gian tiền đường, nhìn thấy mấy người lính lệ đứng nghiêm, mới hiểu người đàn ông áo nâu sờn khuỷu đang đứng trước mặt mình là ai. Chị lại định quỳ xuống. Chẩn giữ tay chị lại.
– Đường Nà Pò xa không chị?
– Đi bộ nửa ngày, quan ạ.
– Thế thì về ngay đi kẻo tối. Thằng bé đi chân đất à? Lịch đâu... – Anh nhớ ra Lịch đã chạy đi. Anh gọi một người lính lệ. – Lấy cho thằng bé đôi dép trong trại lính, đôi nào vừa chân nó.
Chưa đầy một canh giờ sau, bốn người lính khiêng về hai cái đấu gỗ sơn đen, mỗi cái dán một băng giấy niêm có dấu châu. Theo sau họ là một chiếc kiệu nhỏ.
Chủ Lộc xuống kiệu ở cổng nha, vẫn cái áo lụa nâu, vẫn dáng người nhỏ nhẹ. Theo sau ông ta là người thư ký ban sáng, ôm một cái tráp gỗ.
– Bẩm quan, – chủ Lộc vái, – tôi nghe nói có người kiện hiệu tôi. Tôi đến để trình văn tự, cho quan khỏi mất công cho người đi lấy.
Người thư ký mở tráp, lấy ra một tờ văn tự, trải lên bàn. Văn tự viết rõ: Lò Thị Ỏm vay hai mươi đấu thóc, hẹn mùa trả bốn mươi đấu, đong bằng đấu của hiệu, không trả đủ thì cứ theo lệ hiệu mà tính lãi, quá hạn tháng Tư năm sau thì thửa ruộng dưới chân đồi Nà Pò thuộc về hiệu Tăng Ký. Dưới văn tự có dấu điểm chỉ của Lò Thị Ỏm, mực đỏ, rõ từng đường vân.
– Văn tự có điểm chỉ, có người làm chứng, – chủ Lộc nói. – Đong bằng đấu của hiệu, chị ta cũng đã điểm chỉ nhận. Tăng Ký mở hiệu hai mươi lăm năm ở trấn này, chưa từng sai của ai một hạt thóc. Quan cứ cân, cứ đong, cứ xét.
Chẩn đọc văn tự một lượt. Đọc kỹ dòng "đong bằng đấu của hiệu". Rồi anh nhìn hai cái đấu đặt cạnh nhau dưới chân bàn.
– Ông Lộc, – anh nói, – văn tự ghi "đấu của hiệu". Hiệu ông có mấy cái đấu?
Chủ Lộc mỉm cười.
– Bẩm quan, hai cái. Một cái cho vay, một cái thu. Hai cái đóng cùng một lúc, cùng một ông thợ, cùng một khúc gỗ. Giống nhau như hai giọt nước.
– Giống nhau như hai giọt nước, – Chẩn nhắc lại. – Thế thì ông để riêng làm gì?
Lần đầu tiên, nụ cười của chủ Lộc chậm lại một nhịp. Chỉ một nhịp thôi. Ngón tay cái bàn tay phải của ông ta, chỗ có vết chai nhỏ, khẽ miết vào ngón trỏ, như đang lần một hạt bàn tính không có ở đó.
– Bẩm quan, để cho sạch sổ. Hiệu buôn có lề lối của hiệu buôn.
– Thế thì ngày mồng Bảy, ông mang lề lối ấy lên công đường, – Chẩn nói. – Tôi muốn xem.
— Hết chương 4 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe