AI Truyện
Kho thóc không có mọt

🏯 Cổ đại & cung đấu

Hộp trầu bạc chạm hoa cúc

Kho thóc không có mọt · Chương 6/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Hộp trầu bạc chạm hoa cúc

Nhà cụ Tô nằm trên lưng chừng một con dốc phía bắc trấn, nhìn thẳng xuống khúc sông Nậm Khoang chỗ nước chảy xiết nhất. Ba gian nhà gỗ lim, mái ngói, sân lát đá, trước sân có một cây ngâu già. Gian bên trái là lớp học. Chiều mười hai tháng Năm, lúc Chẩn tới, hơn hai chục đứa trẻ đang ngồi xếp bằng trên chiếu, đồng thanh đọc một câu trong sách Tam tự kinh, giọng ê a lẫn với tiếng thác dưới sông.

Cụ Tô ngồi ở gian giữa, trước một bộ ấm chén bằng sứ men lam. Thấy Chẩn, cụ cười, vẫy tay bảo ngồi.

– Cả trấn nói chuyện hai cái đấu, – cụ nói, rót trà. – Chợ phiên mồng Mười vừa rồi, bà bán bánh gio dưới chợ đem cái đấu nhà mình lên nha đối, xong về treo cái đấu ấy lên cột nhà như treo bằng sắc phong. Anh làm được việc tốt.

– Con chỉ làm cái việc ai làm quan cũng phải làm.

– Ai làm quan cũng phải làm, mà mười mấy năm không ai làm. – Cụ cười, gõ hai ngón tay vào nắp hộp trầu bạc. Cạch cạch. Đứa học trò nhỏ chạy lên mở hộp. Cụ lấy một miếng trầu, cuộn thêm một mẩu vỏ quế mỏng, bỏ vào miệng. – Nhưng ta nói thật với anh. Lộc là con buôn. Con buôn sợ mất tiền hơn sợ quan. Anh đánh vào cái túi của nó, nó sẽ cắn. Không cắn bây giờ thì cắn sau.

– Con biết.

– Anh biết. – Cụ nhai trầu chậm rãi, môi đỏ dần lên. – Thế còn cái kho? Thầy Thông bảo anh chưa ký giao nhận.

Chẩn kể việc mình đã gửi công văn xin phủ cử người lên khám. Anh không kể chuyện túi trấu cát. Không phải vì anh nghi cụ. Anh chỉ nghĩ việc chưa rõ thì chưa nên nói với ai, kể cả người mình kính trọng nhất.

Cụ Tô nghe, gật gù.

– Đúng phép. Anh làm đúng phép thì không ai trách được anh. – Cụ ngừng một lát. – Tri phủ Vưu là học trò cũ của ta. Để ta viết cho ông ấy mấy chữ, bảo ông ấy cử người cẩn thận lên giúp anh. Châu xa, quan trẻ, phủ phải đỡ.

Chẩn đứng dậy vái tạ.

Hôm ấy hai thầy trò ngồi đến lúc trời ngả chiều. Cụ kể chuyện ngày cụ còn trẻ, cũng là con nhà nghèo ở chính cái trấn này, cha làm phu khuân muối dưới bến, cụ đi học phải mượn sách của con nhà giàu, chép lại bằng than lên lá chuối. Cụ kể năm ba mươi tư tuổi mới đỗ, làm quan ba mươi năm, từ một chân hành tẩu lên đến Thị lang bộ Hộ.

– Cả đời ta ngồi đếm thóc của thiên hạ, – cụ nói, nhìn ra khúc sông. – Đếm thóc của mười ba trấn, hai trăm kho. Anh có biết kho thóc nào khó đếm nhất không?

– Bẩm, không.

– Kho thóc mà ai cũng tin là đầy. – Cụ cười, quẹt bã trầu vào cái ống nhổ bằng đồng. – Vì không ai buồn đếm.

Lúc về, đi qua gian lớp học, Chẩn thấy trên vách treo một bức chữ viết tay, nét chữ mềm mà sắc. Bốn chữ: thanh, thận, cần, nhẫn. Đứa học trò nhỏ thấy anh nhìn, khoe: chữ thầy con đấy, ạ, thầy viết để dạy anh Lịch ngày xưa, anh Lịch viết theo giống y.

Mấy hôm sau, Chẩn đến bản Nà Rào.

Bản nằm trong một thung lũng nhỏ, cách trấn chừng một canh giờ đi bộ theo đường suối. Nhà cô Na là một nếp nhà sàn ba gian ở cuối bản, sát bìa rừng, dưới gầm sàn phơi đầy những nong lá thuốc. Cô sống một mình với bà nội đã ngoài tám mươi, lòa cả hai mắt, ngày ngồi bên bếp lửa tước sợi gai.

Chẩn đến không phải để thăm. Anh đến nhờ cô làm người giúp việc khám nghiệm cho nha châu, có lương tháng, có tên trong sổ chi.

– Tôi không cho cô làm ngỗ tác được, – anh nói thẳng. – Luật không ghi tên đàn bà vào chức ấy. Nhưng nha châu được thuê người biết việc. Tôi thuê cô.

Cô Na đang giã thuốc, ngừng chày.

– Người ta sẽ cười quan.

– Người ta cười thì người ta cười.

Cô nhìn anh một lúc, rồi đứng dậy, vào trong nhà. Khi ra, cô cầm cái hộp gỗ đồ nghề hôm khám xác Mộc. Cô đặt nó xuống sàn, mở nắp, lấy ra một mảnh giấy gấp tư đã ố vàng, kẹp dưới tấm lót đáy hộp.

– Cha tôi viết lại cái hôm khám ông Pản, – cô nói. – Bản ở nha thì người ta lấy mất rồi. Đây là bản cha tôi tự chép, giấu ở nhà.

Chẩn mở ra. Chữ Hán lẫn chữ Nôm, nét run run của người không quen cầm bút nhiều. Người chết là Lâm Văn Pản, lái đò bến dưới, năm mươi tám tuổi. Lều cháy giữa canh ba đêm mười bốn tháng Chín năm Thuận Hữu thứ ba. Trong mũi, trong họng không có muội than. Người còn thở lúc lửa cháy thì hít khói vào, muội đọng trong mũi trong họng, cạo ra đen như nhọ nồi. Ông Pản sạch. Sau đầu có vết dập. Kết: chết trước khi lửa cháy.

Dưới cùng có một dòng chữ khác, viết vội hơn, mực khác màu: "Hai đêm trước đó có hai chiếc thuyền lớn đậu bến Sau gò Mít, không thắp đèn. Pản chở đò đêm, thấy."

– Cái dòng cuối ấy, cha cô nghe ai nói?

– Cha tôi không kể. Ông chỉ bảo, nếu sau này có quan nào không sợ, thì đưa cho quan ấy xem.

Chẩn gấp tờ giấy lại, trả cho cô.

– Cô giữ lấy. Bây giờ chưa đến lúc.

Ngày hai mươi tháng Năm, lính trạm mang về trả lời của phủ Tĩnh Biên. Phủ chấp thuận. Ngày mồng Mười tháng Sáu, Thông phán phủ là ông Nghiêm Cảnh sẽ lên khám kho gò Mít. Hạn ký giao nhận hoãn tới ngày khám.

Cùng chuyến trạm có một lá thư khác, gói trong lá chuối khô, buộc lạt. Thư của mẹ anh.

Mẹ anh không biết chữ. Thư nhờ ông đồ đầu bến Vạn Xuyên viết hộ, nhưng lời là lời của bà, ông đồ chép nguyên, không sửa được câu nào. "Con ơi, mẹ khỏe. Năm nay chiêm được mùa, giá bánh đúc vẫn hai đồng một miếng, mẹ không tăng vì người ta còn nghèo. Gặt xong mẹ lên thăm con, đầu tháng Bảy mẹ đi, ông lái Hai cho đi nhờ ghe đến phủ, từ phủ mẹ hỏi đường. Mẹ mang lên cho con một bao gạo tám thơm với cái nồi đất con hay nấu. Con làm quan thì ăn uống cho tử tế, đừng ăn cơm nguội như hồi đi học. Mẹ."

Chẩn đọc hai lần, rồi gấp lại, cất vào ngực áo.

Những ngày cuối tháng Năm, nha châu bận rộn như chợ phiên. Người các bản kéo về mang văn tự vay thóc của Tăng Ký, có người mang cả xấp văn tự của ba năm liền. Lịch ngồi tính từ sáng đến tối, ngón tay sưng lên vì gẩy bàn tính. Người thì được trả lại vài đấu thóc. Người thì được xóa nợ. Có người được trả lại cả con trâu cày đã gán nợ năm ngoái.

Chủ Lộc không kêu một tiếng. Hiệu Tăng Ký trả đủ, trả đúng hạn, trả cả tiền phạt. Những cái đấu mới mang lên đối, cái nào cũng đúng như đấu quan. Ông ta còn sai người mang lên nha một cái biển gỗ khắc mấy chữ "Thanh liêm minh chính", xin được treo ở công đường. Chẩn cho cất cái biển vào kho đồ lễ.

– Ông ấy ngoan quá, – Chẩn nói với cô Na một buổi chiều. – Con buôn bị phạt mà ngoan thế này là đang tính một món to hơn.

Mỗi sáng anh đi lên gò Mít một lần. Băng niêm trên cửa kho vẫn nguyên, hồ nếp khô cứng, dấu ấn đỏ không nhòe. Anh Pò và anh Đăm thay nhau ngủ ở chòi, ngày nào cũng báo: không có ai lên gò.

Một buổi, thấy hai anh em gầy rộc đi vì gác đêm, Chẩn dặn Lịch:

– Hai anh ấy ở Nà Rào xuống, gác cho mình vất vả. Cậu xem trong bếp nha có gì thì tối tối mang lên cho họ một ít. Thêm cút rượu cho ấm bụng, gác đêm trên gò gió lắm.

– Bẩm, vâng ạ.

Chiều mồng Chín tháng Sáu, Thông phán Nghiêm Cảnh tới.

Ông ta đi thuyền ngược sông, có hai thư lại phủ và sáu lính đi theo. Người ngoài bốn mươi, mặt dài, râu tỉa gọn, mặc áo công phục màu lam thẫm dù đi đường xa. Xuống thuyền, ông ta không nhìn bến, không nhìn trấn, chỉ hỏi nha châu ở đâu, rồi đi thẳng lên.

Bữa cơm chiều hôm ấy, Chẩn cho làm mâm cỗ đơn giản: cá sông nướng, măng đắng luộc, thịt trâu gác bếp, rượu ngô. Ông Nghiêm Cảnh ăn ít, uống một chén thì úp chén.

– Quan châu làm việc cẩn thận quá, – ông ta nói. – Kho nghĩa thương của một châu miền núi, phủ đã khám năm nào cũng như năm nào, sổ sách rõ ràng. Thế mà bắt phủ phải cử người lên tận đây.

– Hạ quan mới nhậm chức, không dám ký mù.

– Không dám ký mù, – ông Nghiêm Cảnh nhắc lại, nhấp một ngụm trà. – Thế thì ngày mai bản chức sẽ cho người khiêng bao, xiên thóc, đếm từng hộc. Mở ra đủ, thì quan châu ký. Mở ra thiếu, thì phủ sẽ lo. Thế cho gọn.

Đêm ấy trời lại mưa. Không đổ ầm ầm như đêm đầu tiên Chẩn đến trấn. Mưa dai dẳng, rả rích, kéo từ đầu hôm đến gần sáng. Tiếng mưa trên mái ngói nha châu nghe khác với tiếng mưa trên mái gianh quán trọ, đều và lạnh hơn.

Chẩn nằm không ngủ. Anh nghĩ đến bức tường bao thóc trong kho, đến những gì nằm sau nó. Ngày mai, nếu anh đúng, sẽ có mấy trăm bao trấu cát bị lôi ra trước mặt quan phủ, và những người đã đổ trấu cát vào đó sẽ phải trả lời. Nếu anh sai...

Anh không nghĩ đến chuyện mình sai.

Gần canh tư, anh trở dậy, khoác áo ra hiên. Ngoài sân, trong màn mưa, có một ngọn đèn lồng đang đi từ phía cổng sau vào. Đèn đến gần thì anh nhận ra Lịch. Cậu đội cái nón lá, khoác áo tơi, ống quần xắn cao, bước thấp bước cao trên sân gạch ướt.

– Lịch? Đi đâu giờ này?

Cậu thư lại giật mình, suýt đánh rơi đèn.

– Bẩm quan... con mang áo tơi lên gò cho anh Pò anh Đăm. Mưa quá, con sợ hai anh ấy ướt.

– Có việc gì không?

– Bẩm không ạ. Niêm vẫn nguyên. Hai anh ấy đang ngủ... à, đang ngồi trong chòi.

Chẩn gật đầu, bảo cậu đi ngủ đi, sáng mai còn chép biên bản. Lịch cúi chào rồi đi nhanh về phía dãy nhà sau.

Trời sáng dần. Mưa tạnh. Đến giờ Thìn, cả trấn Đá Ngựa kéo nhau lên gò Mít.

— Hết chương 6 —

Mục lục Kho thóc không có mọt

  1. 1Con mọt trong bát cơm11 phút
  2. 2Chiếc dép dính đất đỏ11 phút đọc
  3. 3Ngọn đèn chòi canh11 phút đọc
  4. 4Hai cái đấu nhà Tăng Ký10 phút đọc
  5. 5Chiếc đũa đo đáy đấu11 phút đọc
  6. 6Hộp trầu bạc chạm hoa cúc10 phút đọc
  7. 7Chín trăm bao không có mọt10 phút đọc
  8. 8Những cái đinh không gỉ10 phút đọc
  9. 9Bốn sào ruộng nhà họ Phù9 phút đọc
  10. 10Thóc của chủ Lộc vào nồi dân9 phút đọc
  11. 11Nén bạc trong gối mây9 phút đọc
  12. 12Chữ Lục khắc trên mặt nén9 phút đọc
  13. 13Người đàn bà ở Khau Lả9 phút đọc
  14. 14Hàm răng trắng của thầy Thông9 phút đọc
  15. 15Quyển thi trong chồng quyển hỏng9 phút đọc
  16. 16Bàn tay người cầm lái10 phút đọc
  17. 17Phiên thứ nhất ở phủ thành9 phút đọc
  18. 18Hai phòng, một câu hỏi9 phút đọc
  19. 19Bảy tấm ván9 phút đọc
  20. 20Thóc nương về kho9 phút đọc

Về truyện này

Kho thóc không có mọt là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →