Chương 3: Ngọn đèn chòi canh
Chẩn không cho trói hai người lính canh. Anh chỉ bảo họ đi theo anh về nha châu, mỗi người đi cách nhau một quãng, mỗi người có một lính lệ đi kèm.
Đến nha, anh cho Sầm vào ngồi ở gian tiền đường, Ngoạn ở gian hậu, giữa hai gian cách một cái sân lát gạch và một bể nước. Không ai được nói với ai.
Thầy Thông đứng chờ ở hành lang. Ông đã thay cái áo the ban sáng bằng một cái áo dài sẫm màu hơn, tay áo xắn gọn.
– Bẩm quan, có cần cho đem kẹp tre với roi mây ra không ạ? Lính canh kho là bọn lì, không có roi thì chúng không mở miệng.
– Không cần, – Chẩn nói.
– Bẩm, lệ ở nha này xưa nay...
– Đánh thì ra lời khai, thầy ạ, – Chẩn nói, – chứ không ra sự thật. Người ta đau thì người ta nói cái mình nghĩ là quan muốn nghe.
Thầy Thông cúi đầu, không nói gì nữa. Ông khẽ nhếch môi, như người đã nghe câu này từ ba ông quan trước và biết nó thường kéo dài được bao lâu. Khi ông nhếch môi, Chẩn thấy hàm răng ông trắng, đều, trắng lạ lùng ở một người đàn ông năm mươi mấy tuổi sống giữa vùng ai cũng ăn trầu. Sau này Lịch kể, thầy Thông đau dạ dày từ hồi trẻ, cả đời không đụng đến miếng trầu.
Chẩn vào gian tiền đường trước. Sầm vẫn quỳ. Anh bảo Sầm ngồi lên ghế, bảo Lịch rót cho Sầm một bát nước chè xanh.
– Tôi không hỏi chuyện anh Mộc, – Chẩn nói. – Tôi chỉ hỏi chuyện đêm qua ở chòi canh, để chép vào sổ cho đủ. Đêm qua hai anh ăn gì?
Sầm hơi ngớ ra. Anh ta đã chuẩn bị cho những câu khác.
– Bẩm, xôi. Xôi với cá khô.
– Ai thắp đèn?
– Bẩm, con thắp.
– Đèn cháy đến sáng?
– Bẩm, cháy suốt đêm.
– Lúc trời đổ mưa, hai anh đang làm gì?
– Bẩm, đang ngồi đánh cờ gánh. Chúng con đánh cờ gánh suốt đêm cho khỏi buồn ngủ.
– Ai ngủ trước?
– Bẩm, không ai ngủ. Gác kho thì không được ngủ.
Chẩn gật đầu. Lịch chép từng câu. Anh hỏi thêm vài câu vô thưởng vô phạt nữa, về đường lên gò, về khóa kho, về việc ai giữ chìa. Sầm trả lời trơn tru. Chìa khóa kho chỉ thủ kho giữ, lính canh không có. Đêm qua không thấy ai lên gò. Không thấy thủ kho. Không nghe tiếng gì ngoài tiếng mưa.
Rồi Chẩn đứng dậy, sang gian hậu.
Ngoạn vẫn quỳ, vạt áo bị cậu vò nhàu đến mức như vừa vắt nước. Chẩn cũng bảo cậu ngồi lên ghế, cũng cho cậu một bát nước chè. Cậu cầm bát bằng cả hai tay mà nước vẫn sóng sánh.
– Đêm qua hai anh ăn gì?
– Bẩm... cơm nắm. Cơm nắm với muối vừng.
– Ai thắp đèn?
– Bẩm, con.
– Đèn cháy đến sáng?
Ngoạn ngập ngừng.
– Bẩm, lúc mưa xuống, gió quật vào chòi, đèn tắt. Con thắp lại.
– Lúc đèn tắt, anh Sầm đang làm gì?
Ngoạn mở miệng, rồi ngậm lại. Cậu nhìn xuống bát nước.
– Bẩm... anh Sầm ra ngoài... đi tiểu.
– Hai anh có đánh cờ không?
– Bẩm, không. Con... con ngủ từ đầu canh hai.
Chẩn đặt tay lên mặt bàn, im lặng một lúc. Cô Na đứng ở cửa gian hậu từ lúc nào, tay khoanh trước ngực. Lịch ngừng bút.
– Ngoạn, – Chẩn nói, – anh với anh Sầm kể khác nhau bốn chỗ. Anh Sầm ăn xôi, anh ăn cơm nắm. Anh Sầm nói đèn cháy suốt đêm, anh nói đèn tắt lúc mưa. Anh Sầm nói hai người đánh cờ cả đêm, anh nói anh ngủ từ đầu canh hai. Anh Sầm nói không ai rời chòi, anh nói anh ấy ra ngoài.
Ngoạn bắt đầu run.
– Một người nói dối thì người kia có thể nói thật, – Chẩn tiếp. – Nhưng hai người nói dối khác nhau, thì nghĩa là đêm qua hai người không ngồi cùng nhau trong chòi. Mà tôi nghĩ anh không phải người nghĩ ra chuyện này. Anh chỉ được dặn phải nói "cả đêm không ai lên gò", còn những chuyện vặt khác thì không ai dặn, nên anh nói thật.
Ngoạn đặt bát nước xuống đất. Nước đổ ra một nửa.
Cô Na bước vào, ngồi xuống cái ghế bên cạnh cậu. Cô nói gì đó bằng tiếng Tày, rất khẽ. Chẩn chỉ nghe được tên Mộc. Ngoạn cúi gập người xuống, hai tay ôm lấy đầu.
– Anh Ngoạn là cháu họ ngoại tôi, – cô Na quay sang Chẩn, giọng vẫn bình thản. – Hồi mới vào làm lính canh, nhà nghèo, đi gác không có cơm mang theo. Anh Mộc ngày nào cũng mang hai nắm cơm, cho nó một nắm.
Chẩn cúi người về phía trước.
– Ngoạn, anh nghe tôi. Cô Na đã khám người anh Mộc. Anh ấy không bị ai đâm, không bị ai đánh bằng gậy. Anh ấy ngã ngửa, gáy đập vào bậc đá trước cửa kho. Người làm anh ấy ngã thì phải chịu tội làm chết người. Còn người chỉ khiêng anh ấy đi thì là một tội khác, nhẹ hơn nhiều. Nhưng nếu anh không nói, thì tôi chỉ biết có hai người lính canh, một cái bậc đá, và một người chết. Tội nào cũng phải có người chịu.
Cậu trai ngẩng lên. Mắt cậu đỏ hoe.
– Con không đẩy anh ấy. Con thề, con không đẩy.
– Thế thì ai?
Rồi cậu kể. Cô Na ngồi yên bên cạnh. Lịch chép, ngòi bút lại chạy sột soạt, chỉ có điều lần này tay cậu ta run.
Đêm qua, đầu canh hai, Ngoạn ngủ. Anh Sầm ngồi thức. Mưa xuống thì cậu tỉnh dậy, đèn tắt, anh Sầm không có trong chòi. Cậu thắp lại đèn, nghe tiếng người cãi nhau ở cửa kho. Cậu cầm đèn chạy ra. Cửa kho mở. Anh Mộc đứng ở bậc thứ hai, ôm khư khư một cái túi vải nhỏ, như đang định đi xuống. Dưới chân bậc có hai người chặn lối. Một người là anh Sầm. Người kia là Quách Tư, quản lý hiệu Tăng Ký.
– Quách Tư giằng cái túi, anh Mộc không cho. Anh Mộc bảo: "Tao không làm nữa. Quan mới lên rồi, tao không làm nữa." Quách Tư bảo: "Mày không làm thì vợ con mày ăn gì." Rồi hắn giằng mạnh, anh Mộc giật lại, hắn buông tay đẩy một cái. Anh Mộc ngã ngửa ra sau, đầu đập xuống mặt bậc trên cùng. Cái tiếng ấy... – Ngoạn nghẹn lại. – Rồi anh ấy không dậy nữa.
– Cái túi đâu?
– Quách Tư cầm đi. Hắn đổ ra rãnh nước, cho mưa trôi.
– Sau đó?
– Quách Tư lấy bầu rượu đeo bên hông đổ lên áo anh Mộc. Hắn bảo con với anh Sầm khiêng anh ấy theo lối sau gò, xuống suối, chỗ dưới cầu Ván. Hắn bảo cứ thả xuống, nước to, sáng mai trôi ra bến, ai cũng tưởng ngã cầu. Lúc khiêng, một chiếc dép tuột ra, trời tối, con không thấy. – Ngoạn lại cúi xuống. – Về, anh Sầm lấy nước mưa dội sạch bậc đá. Quách Tư cho mỗi đứa hai quan. Hắn bảo đứa nào hé răng thì nhà đứa ấy cháy.
Chẩn ngồi im một lúc lâu.
– Anh Mộc lên kho làm gì, giữa đêm?
– Con không biết, bẩm quan. Con chỉ nghe anh ấy nói "tao không làm nữa".
Ngay đêm ấy, Chẩn cho lính đến hiệu Tăng Ký bắt Quách Tư.
Hiệu Tăng Ký nằm ở đầu chợ, ngay trên bến, là ngôi nhà gạch to nhất trấn Đá Ngựa: ba gian mặt tiền bán muối, mắm, vải, một gian cầm đồ, phía sau là dãy kho nhìn xuống sông. Lúc lính tới, cửa đã đóng, nhưng đèn trong nhà còn sáng.
Chủ hiệu ra mở cửa. Ông ta năm mươi mốt tuổi, người dong dỏng, mặc áo lụa màu nâu không thêu thùa gì, nói năng nhỏ nhẹ, chắp tay vái quan châu rất đúng lễ. Tăng Phúc Lộc, người dưới xuôi lên lập nghiệp đã hai mươi lăm năm, người mà cả châu gọi là chủ Lộc.
– Quách Tư là người làm của tôi, – ông ta nói, sau khi nghe lính đọc lệnh. – Nếu nó có tội, xin quan cứ xét theo phép nước. Tôi chỉ xin quan cho nó khoác thêm cái áo, đêm trên này lạnh.
Chẩn nhìn bàn tay ông ta chắp trước ngực. Tay mềm, trắng, không có vết chai của người làm lụng. Chỉ có một chỗ chai nhỏ ở mé ngón tay cái bên phải, chỗ ngón cái tì vào hạt bàn tính suốt mấy chục năm.
Quách Tư bị dẫn ra. Hắn ba mươi tám tuổi, to ngang, mặt có vết sẹo nhỏ ở cằm. Hắn không chống cự. Đến nha, hắn khai luôn, như thể đã học thuộc từ trước. Hắn với Mộc có nợ cờ bạc, Mộc nợ hắn mười quan. Đêm ấy hắn lên kho đòi nợ, hai bên cãi nhau, Mộc trượt chân ngã. Hắn sợ, nên mới bày chuyện say rượu ngã cầu. Lính lục người hắn, thấy chùm chìa khóa kho của Mộc giắt trong cạp quần. Hắn khóa cửa kho rồi mang luôn chìa về, chưa kịp vứt.
– Cái túi anh Mộc ôm trong tay, trong ấy là gì?
– Bẩm, tôi không biết. Chắc là thóc kho nó định ăn cắp đem bán.
– Thế anh giằng nó làm gì?
Quách Tư nhún vai.
– Bẩm, giằng để đòi nợ.
Chẩn không hỏi thêm. Anh cho giam Quách Tư và Sầm vào ngục nha châu, giam riêng hai buồng. Ngoạn thì cho tạm giữ ở trại lính, có người canh, có cơm ăn.
Sáng mồng Hai, anh cho dán giấy niêm phong lên cửa kho gò Mít. Hai băng giấy dó bắt chéo, giữa có dấu ấn châu đỏ thắm, mép giấy phết hồ nếp. Anh thay hai người lính canh khác, theo lời cô Na tiến cử, là hai anh em họ người Nà Rào, anh Pò và anh Đăm, người thật thà, không quen ai dưới trấn.
Chiều mồng Ba, đám tang Hà Văn Mộc. Chẩn mặc áo thường đến thắp một nén hương.
Nhà Mộc ở xóm Bên Suối là một gian nhà sàn nhỏ, cột tre, vách nứa. Vợ anh, chị Ngát, ngồi bên quan tài, mắt sưng húp. Đứa con gái sáu tuổi tên cái Gạo ngồi trong lòng mẹ, tay cầm một nắm cơm nguội, chốc chốc lại đưa lên miệng gặm một miếng nhỏ.
Thắp hương xong, Chẩn định về thì chị Ngát gọi lại. Chị đứng dậy, đi vào buồng trong, khi trở ra thì cầm một cái túi vải chàm nhỏ, buộc miệng bằng sợi lạt.
– Hôm hai mươi bảy, nhà tôi mang cái túi này về, – chị nói. – Anh ấy bảo tôi cất kỹ. Anh ấy dặn: nếu anh có làm sao, mang cái này đưa cho quan mới. Đừng đưa cho cậu Thường. Đưa tận tay quan mới.
Chẩn cởi sợi lạt.
Trong túi chỉ có một nắm thứ gì đó lổn nhổn. Anh đổ ra lòng bàn tay. Vài chục hạt thóc lép đen, khô quắt, mấy con mọt chết nằm ngửa. Còn lại, phần lớn, là trấu. Trấu trộn cát, cát sông vàng, hạt nhỏ mịn.
Anh đứng nhìn nắm trấu cát trong lòng bàn tay rất lâu. Rồi anh hiểu Hà Văn Mộc đã muốn nói với anh điều gì, đã hỏi ba lần trong một ngày xem quan mới tới chưa để nói điều gì.
Cái kho trên gò Mít không chứa thóc. Hoặc chỉ chứa thóc ở mấy hàng ngoài cùng, nơi người ta mở cửa ra là thấy.
Tối hôm ấy, thầy Thông bưng vào phòng quan châu một quyển sổ bìa vải xanh, đặt lên bàn.
– Bẩm quan, sổ giao nhận kho quỹ. Theo lệ, quan mới nhận ấn thì trong vòng một tháng phải ký nhận kho quỹ, tiền thuế, thóc nghĩa thương. Quan cũ mất, sổ do hạ quan giữ. Kho gò Mít ghi một nghìn hai trăm hộc.
Chẩn lật quyển sổ. Chữ đẹp, số đều, năm nào cũng có dấu ấn của quan châu cũ, năm nào cũng có dấu ấn của phủ. Mỗi năm đổi một phần ba thóc cũ lấy thóc mới, giá bán ra, giá mua vào, ghi rành mạch đến từng đồng.
– Nếu tôi không ký?
– Thì quan phải làm công văn xin phủ cử người xuống khám kho. – Thầy Thông nói đều đều. – Mà phủ xuống khám, mở kho ra thấy đủ một nghìn hai trăm hộc, thì quan mang tiếng vu cho người đã chết, lại làm phiền quan trên.
Chẩn ngẩng lên.
– Thầy là cậu ruột của anh Mộc.
Thầy Thông im lặng. Ngọn đèn dầu trên bàn lắt lay. Một con thiêu thân lao vào ngọn lửa, rơi xuống mặt bàn, quẫy mấy cái rồi nằm yên.
– Bẩm quan, – cuối cùng ông nói, – hạn ký là mồng Một tháng Sáu. Hạ quan xin phép lui.
— Hết chương 3 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe