AI Truyện
Kho thóc không có mọt

🏯 Cổ đại & cung đấu

Hàm răng trắng của thầy Thông

Kho thóc không có mọt · Chương 14/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 14: Hàm răng trắng của thầy Thông

Đêm ấy Chẩn không đi tìm thầy Thông.

Anh cho hai người lính đứng canh trước cửa buồng giam Quách Tư, cho anh Đăm ngủ ngay trong hành lang ngục. Từ giờ, cơm của Quách Tư do chính bà Sứa nấu, chính cô Na nếm trước. Rồi anh về phòng, ngồi bên ngọn đèn đến gần sáng.

Anh nghĩ lại từng việc, từ đầu.

Ngày đầu tiên dưới bến, thầy Thông nhìn xác Mộc, các ngón tay co lại duỗi ra, rồi bảo khiêng về cho nhanh. Tối hôm ấy, thầy Thông mang sổ giao nhận đến, bảo hạn một tháng, bảo phủ xuống khám thì quan mang tiếng. Ngày khám kho, thầy Thông đếm que, bảo cái gì người ta cần nó đủ thì nó đủ. Đêm mồng Bốn, thầy Thông gõ cửa, kể chuyện sáu năm trước, bảo anh đi Khau Lả hỏi bà Dín trước. Anh đi. Trong hai ngày anh vắng mặt, có người gửi cơm độc vào ngục, và người duyệt cho bát cơm ấy đi qua cổng nha là thầy Thông.

Một người muốn anh rời khỏi trấn hai ngày thì không thể tìm được cách nào hay hơn là kể cho anh nghe một câu chuyện mà anh không thể không đi tìm đến cùng.

Và cả trấn này gọi ông là thầy. Thầy Thông.

Sáng mồng Bảy, Quách Tư tỉnh hẳn. Hắn nằm trên cái chiếu trong buồng giam, mặt xám ngoét, môi nứt nẻ, uống từng ngụm nước đậu xanh cô Na đưa. Chẩn vào, ngồi xuống cái ghế đẩu bên cạnh. Cô Na ngồi ở góc. Không có ai khác.

– Cơm hôm qua ai gửi?

Quách Tư nhìn lên trần nhà.

– Nhà tôi chẳng còn ai. Vợ tôi bỏ đi từ lâu. Chỉ có thằng em.

– Quách Ba.

Hắn không trả lời. Nhưng hai hàm răng hắn nghiến lại, Chẩn nghe rõ tiếng.

– Em anh gửi cơm cho anh mỗi ngày từ hôm anh vào đây, – Chẩn nói. – Hơn hai tháng. Chưa hôm nào có độc. Hôm qua thì có. Hôm qua là mấy hôm sau ngày quan phủ giải Mông Văn Khoái đi, khi cả trấn đã biết việc gói bạc trong gối hỏng rồi. Anh nghĩ em anh tự nghĩ ra việc ấy à?

Quách Tư nhắm mắt lại.

– Tôi không ngu, quan ạ.

– Thế thì anh biết, từ hôm nay, người ta không cần anh sống nữa.

Hắn im lặng, nghe tiếng nước nhỏ giọt ngoài hiên. Rồi hắn mở mắt, quay đầu nhìn Chẩn.

– Quan muốn hỏi gì?

– Đêm mười bốn tháng Chín năm Thuận Hữu thứ ba. Lều ông Pản ở bến dưới.

Mặt Quách Tư không động đậy, nhưng cái yết hầu của hắn lên xuống một lần.

– Có người thấy anh, – Chẩn nói. – Trăng mười bốn sáng như ban ngày. Người ta thấy vết sẹo ở cằm anh. Người ta còn nghe một người mặc áo the bảo anh: xong rồi thì về, Tư, đừng chạy. Và anh trả lời: vâng, thầy.

Quách Tư bật cười, một tiếng cười khàn, ngắn, đứt ra thành cơn ho.

– Quan đã biết rồi thì hỏi tôi làm gì.

– Tôi muốn nghe anh nói người ấy là ai.

– Tôi nói ra thì thằng em tôi chết. – Hắn quay mặt vào vách. – Quan muốn biết thì đi mà hỏi người ngay trong nha của quan. Người duyệt cơm cho tôi hôm qua ấy.

Chẩn đứng dậy, đi ra. Cô Na theo sau. Ra đến sân, cô nói khẽ:

– Quan tin hắn?

– Tôi không tin ai cả, – Chẩn nói. – Tôi cho gọi thầy Thông.

Thầy Thông đến ngay. Ông vẫn mặc áo the, đội khăn xếp, như mọi buổi sáng làm việc ở nha. Nhưng đôi mắt ông trũng sâu, như cả đêm không ngủ. Chẩn không mời ông ngồi.

– Chiều hôm qua thầy duyệt bát cơm gửi vào cho Quách Tư.

– Bẩm quan, vâng.

– Thầy có mở ra xem không?

– Bẩm, có. Một bát cơm trắng, một khúc cá kho. Hạ quan nhìn, không ngửi, không nếm. Lệ nha xưa nay vẫn thế. – Thầy Thông cúi đầu. – Đó là lỗi của hạ quan. Hạ quan xin chịu.

– Thầy kể cho tôi chuyện bà Dín ngay hôm sau khi quan phủ đi. Tôi đi Khau Lả. Hai ngày tôi vắng mặt, người ta đầu độc người duy nhất trong ngục có thể nói ra tên kẻ đứng sau. Người cuối cùng nhìn thấy bát cơm ấy trước khi nó vào ngục là thầy. Thầy hiểu vì sao tôi phải hỏi.

– Hạ quan hiểu.

– Đêm mười bốn tháng Chín năm thứ ba, trước lúc thầy đến lều ông Pản lúc gần sáng, thầy ở đâu?

– Ở nhà. Hạ quan đau dạ dày, nằm từ chập tối. Có người nhà làm chứng, nhưng người nhà thì quan không tin được.

Chẩn nhìn ông. Ông đứng thẳng, hai tay buông xuôi, không van xin, không chối. Cái dáng ấy làm Chẩn nhớ đến buổi tối đầu tiên, khi ông mím môi nhếch mép nghe câu "đánh thì ra lời khai, chứ không ra sự thật". Lúc ấy, anh đã thấy hàm răng ông.

– Thầy cười cho tôi xem.

Thầy Thông ngẩng lên, ngơ ngác.

– Bẩm?

– Thầy há miệng ra cho tôi xem.

Ông nhìn anh, rồi chậm rãi làm theo. Hàm răng ông trắng, đều, không một vết đen, không một vệt đỏ. Chẩn nhớ lời Lịch kể từ hôm đầu: thầy Thông đau dạ dày từ hồi trẻ, cả đời không đụng đến miếng trầu.

Bà Dín nói người mặc áo the đêm ấy sặc mùi trầu quế, nồng đến mức sáu năm sau bà vẫn ngửi thấy. Người ăn trầu quế suốt đời, răng phải đen, môi phải đỏ.

Chẩn ngồi xuống ghế. Anh đưa tay xoa mặt, một lúc lâu.

– Thầy ngồi xuống đi.

Thầy Thông ngồi xuống. Cô Na rót cho ông một chén nước.

– Người áo the ấy ăn trầu têm quế, – Chẩn nói. – Giọng chậm, rõ từng chữ, như người đọc sách cho học trò nghe. Quách Tư gọi ông ta là thầy.

Anh dừng lại. Anh nghe chính câu mình vừa nói, nghe từng chữ, như người khác nói.

Như người đọc sách cho học trò nghe.

– Quách Tư hồi nhỏ có đi học không?

Thầy Thông cầm chén nước, không uống.

– Có, quan ạ. Ba năm. Lớp nhà họ Tô. Cụ mở lớp từ hồi còn trẻ, đến lúc cụ đi làm quan thì ông em cụ dạy thay, nhưng năm nào về giỗ cụ cũng ngồi giảng cho học trò mấy buổi, chấm bài từng đứa. Cả trấn này đứa nào học chữ thì đều học lớp cụ Tô. Thằng Mộc cũng học cụ một năm. Thằng Lịch học cụ mười năm. – Ông ngừng một lát. – Đứa nào học cụ, cả đời vẫn gọi cụ là thầy.

Gian phòng im lặng. Ngoài sân, tiếng chổi tre của bà Sứa quét lá khế sột soạt, đều đều, từng nhát một, như chẳng có gì xảy ra trên đời. Cô Na đứng ở góc phòng, hai tay nắm chặt vạt áo.

Chẩn nhớ cái hộp trầu bạc chạm hoa cúc. Hai ngón tay gõ lên nắp, cạch cạch. Miếng trầu têm cuộn thêm một mẩu vỏ quế. Đôi môi đỏ thắm. Quế Hạ Lũng là quế ngon nhất phủ Tĩnh Biên đấy, anh ăn thử. Anh nhớ vị cay nóng ấy lan ra khắp miệng mình, thơm đến tận mũi, buổi sáng đầu tiên anh nhận ấn.

– Năm thứ ba, cụ Tô còn làm Thị lang ở kinh, – anh nói, giọng khô khốc. – Tháng Chín cụ ở đâu?

– Tháng Chín năm nào cụ cũng về quê, – thầy Thông nói. – Giỗ cụ cố ông ngày hai mươi tháng Chín. Ba mươi năm làm quan, chưa năm nào cụ bỏ giỗ. Cả trấn biết. Năm nào cụ cũng xin phép về, ở mươi ngày quanh ngày giỗ.

– Đúng mùa đổi thóc.

– Đúng mùa đổi thóc.

Thầy Thông đặt chén nước xuống. Rồi ông nói, lần này không đợi Chẩn hỏi.

– Hạ quan bảo với quan là hạ quan chỉ đoán. Hạ quan nói dối quan một nửa. Hạ quan không biết ai đốt lều ông Pản, cái đó hạ quan đoán. Nhưng có một việc hạ quan biết, vì hạ quan làm.

Ông nhìn thẳng vào Chẩn.

– Năm nào cũng vậy, đổi thóc xong, chủ Lộc gói một hộp quế. Hộp gỗ, quế thanh xếp kín bên trên, bên dưới lót mấy nén bạc. Đến ngày giỗ hai mươi tháng Chín, hạ quan mang hộp ấy đến nhà cụ Tô, đặt lên bàn thờ cùng với lễ của nha châu. Sáu năm. Năm nào cụ cũng cảm ơn hạ quan, bảo quế Hạ Lũng năm nay thơm lắm.

Cô Na đứng sững ở góc phòng.

– Người mang hộp là hạ quan. – Thầy Thông nói, rõ từng chữ. – Người nhận hộp là cụ Thị lang.

Chẩn ngồi bất động.

Anh nhớ cái buổi chiều sau ngày yết bảng ở kinh. Một gian phòng nhỏ trong dinh bộ Hộ, cửa sổ nhìn ra một cây hoàng lan đang trổ hoa. Ông quan già tóc bạc rót cho anh một chén trà, tự tay rót, không gọi người hầu. Ông bảo: bài anh bàn về phép nghĩa thương, ta đọc ba lần, chỗ quê nhất là chỗ đúng nhất. Anh đã cầm chén trà mà tay run, vì cả đời anh chưa có ai ở trên cao như thế nói với anh một câu như thế. Đêm ấy anh viết thư về cho mẹ, kể lại câu ấy. Mẹ anh nhờ ông đồ đầu bến đọc cho nghe ba lần. Sau này ông đồ kể, bà khóc từ lần đọc thứ nhất đến lần thứ ba.

Anh đã mang cái chén trà ấy theo mình suốt chặng đường lên Hạ Lũng, qua bao nhiêu bến, bao nhiêu đèo.

– Quan, – cô Na khẽ gọi.

Anh ngẩng lên. Thầy Thông vẫn ngồi đó, chưa nói hết.

– Còn một việc nữa, – thầy Thông nói, nhỏ hẳn đi. – Quan châu Giáp Hữu Lân chết tháng Chạp. Đầu tháng Giêng, cụ Tô cho gọi hạ quan đến nhà, bảo ở bộ Lại cụ còn người quen, cụ sẽ xin cho Hạ Lũng một ông quan trẻ, con nhà nghèo, mới đỗ, không thầy không thế, người ở dưới xuôi lên không biết gì về đất này. Cụ bảo hạ quan: người như thế, bảo ký là ký. Không ký thì cũng chẳng ai ở trên đứng ra đỡ.

Ông cúi đầu.

– Quan lên đây là vì cụ xin, quan ạ.

— Hết chương 14 —

Mục lục Kho thóc không có mọt

  1. 1Con mọt trong bát cơm11 phút
  2. 2Chiếc dép dính đất đỏ11 phút đọc
  3. 3Ngọn đèn chòi canh11 phút đọc
  4. 4Hai cái đấu nhà Tăng Ký10 phút đọc
  5. 5Chiếc đũa đo đáy đấu11 phút đọc
  6. 6Hộp trầu bạc chạm hoa cúc10 phút đọc
  7. 7Chín trăm bao không có mọt10 phút đọc
  8. 8Những cái đinh không gỉ10 phút đọc
  9. 9Bốn sào ruộng nhà họ Phù9 phút đọc
  10. 10Thóc của chủ Lộc vào nồi dân9 phút đọc
  11. 11Nén bạc trong gối mây9 phút đọc
  12. 12Chữ Lục khắc trên mặt nén9 phút đọc
  13. 13Người đàn bà ở Khau Lả9 phút đọc
  14. 14Hàm răng trắng của thầy Thông9 phút đọc
  15. 15Quyển thi trong chồng quyển hỏng9 phút đọc
  16. 16Bàn tay người cầm lái10 phút đọc
  17. 17Phiên thứ nhất ở phủ thành9 phút đọc
  18. 18Hai phòng, một câu hỏi9 phút đọc
  19. 19Bảy tấm ván9 phút đọc
  20. 20Thóc nương về kho9 phút đọc

Về truyện này

Kho thóc không có mọt là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →