AI Truyện
Kho thóc không có mọt

🏯 Cổ đại & cung đấu

Chiếc dép dính đất đỏ

Kho thóc không có mọt · Chương 2/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Chiếc dép dính đất đỏ

Người cai lệ quỳ xuống trước. Cái gậy của ông ta rơi đánh cạch xuống mặt đá.

Thầy Thông không quỳ ngay. Ông nhìn Chẩn một lúc, nhìn cái tay nải, nhìn đôi dép cói mòn gót, rồi mới chắp tay cúi rạp người.

– Bẩm quan, hạ quan là Đổng Sĩ Thường, thông lại nha châu. Hạ quan không biết quan lên sớm, có điều sơ suất, xin quan xá cho.

Cả bến lục tục quỳ theo. Mụ Khuyên đứng ở cửa quán, hai tay bưng miệng, chắc đang nhớ lại câu "trẻ thế thì biết gì mà làm quan".

– Mọi người đứng lên cả, – Chẩn nói. – Bến này đá trơn, quỳ thế đau gối.

Anh chỉ vào tấm phên.

– Đưa anh ấy về gian nhà kho sau nha châu, chỗ nào thoáng mát. Báo cho nhà anh ấy biết. Chưa liệm, chưa khâm, chưa ai được thay áo cho anh ấy.

Rồi anh quay sang cô gái áo chàm. Cô vẫn đứng cạnh cái gùi, mặt còn đỏ.

– Cô tên là gì?

– Bế Thị Na, người bản Nà Rào.

– Cô biết khám người chết?

– Cha tôi là ngỗ tác châu này mười hai năm. Tôi theo cha từ năm mười ba tuổi.

Thầy Thông bước lên nửa bước.

– Bẩm quan, việc này không hợp lệ. Cô ta là đàn bà, lại không có tên trong sổ nha. Cha cô ta bị cách chức vì...

– Ngỗ tác nha châu đang ở đâu?

– Bẩm, ông Bàng xuống phủ từ đầu tháng Ba, nghe đâu ốm, chưa về.

– Thế thì bây giờ châu Hạ Lũng không có ngỗ tác, – Chẩn nói. – Luật không cấm quan châu mời người biết việc đến xem giúp. Có gì sai, tôi chịu.

Anh nói nhẹ thôi, không to tiếng. Nhưng thầy Thông không nói thêm câu nào nữa.

Ngay giờ Thìn hôm ấy, đoàn lính trạm hộ tống từ phủ về tới trấn, mang theo văn bằng và cái hộp gỗ sơn đựng ấn châu. Lễ nhận ấn đáng lẽ kéo dài cả buổi sáng, có trống, có chiêng, có các xã trưởng, lý dịch từ mười bốn bản trong châu về đứng chầu. Chẩn cho làm gọn trong nửa canh giờ. Anh mặc áo công phục, đội mũ cánh chuồn, đọc tờ chiếu bổ nhiệm, mở hộp ấn, đóng thử một dấu lên tờ giấy trắng. Mực son đỏ thắm. Từ giờ phút ấy, mọi giấy tờ của châu này mang tên anh.

Người đầu tiên đến chào sau lễ không phải một xã trưởng nào, mà là một ông già.

Ông cụ đi kiệu tre hai người khiêng, xuống kiệu ở cổng nha, chống gậy trúc bước vào. Râu tóc bạc trắng, áo the đen, khăn lượt quấn gọn. Môi ông đỏ thắm màu trầu. Đi theo sau là một đứa học trò nhỏ ôm cái hộp trầu bằng bạc chạm hoa cúc.

Chẩn nhận ra ông ngay. Anh vội bước xuống thềm, cúi gập người.

– Bẩm cụ Thị lang.

– Thôi, thôi. – Ông cụ cười, đỡ tay anh. – Về hưu rồi, gọi là ông đồ Tô cho đỡ ngượng. Ta ở cái trấn này, quê cha đất tổ, sáng nay nghe tin quan châu mới đã lên, lại nghe đâu xuống bến từ sớm, ta biết ngay là anh. Anh không chịu ngồi yên chờ người ta khiêng.

Tô Văn Hàn, nguyên Hữu thị lang bộ Hộ. Mùa xuân năm ngoái, khoa thi Hội ở kinh, ông là quan phúc khảo. Quyển thi của Chẩn đã bị một vị sơ khảo phê chữ "liệt" vì văn "thô, ý quê". Ông Tô nhặt nó ra từ chồng quyển hỏng, đọc ba lần, rồi gạch chữ "liệt" ấy đi. Chẩn đỗ đồng tiến sĩ, đứng gần cuối bảng. Sau khi yết bảng, ông cho gọi anh tới, rót cho anh một chén trà, bảo: bài anh bàn về phép nghĩa thương, ta đọc ba lần, chỗ quê nhất là chỗ đúng nhất.

Tám tháng sau, ông cáo lão về quê. Đầu xuân năm nay, Chẩn nhận chiếu bổ đi Hạ Lũng.

– Ta có viết một lá thư cho bộ Lại, – ông cụ nói, khi hai người đã ngồi xuống ghế. – Châu này thiếu quan đã lâu, mà không ai muốn lên. Ta bảo bộ: có một người trẻ viết về kho nghĩa thương hay nhất khoa, cho người ấy lên đây mà làm thật. Anh không giận ta đấy chứ? Đường xa quá.

– Con biết ơn cụ còn không hết.

Ông cụ cười, đưa tay ra hiệu cho đứa học trò. Đứa bé mở nắp hộp trầu. Ông cụ gõ hai ngón tay lên nắp hộp, cạch cạch, rồi mới lấy ra một miếng trầu đã têm sẵn, đưa cho Chẩn.

– Ăn thử. Trầu ở đây têm với vỏ quế. Quế Hạ Lũng là quế ngon nhất phủ Tĩnh Biên đấy.

Chẩn không quen ăn trầu, nhưng vẫn nhận. Vị quế cay nóng lan ra khắp miệng, thơm đến tận mũi.

Ông cụ nói chuyện thêm một lúc. Nói về khí hậu, về sốt rét mùa mưa, về chuyện quan cũ chết vì sốt rét trên đường xuống phủ. Rồi như vô tình, ông hỏi về chuyện ở bến sáng nay.

– Thằng Mộc là đứa hiền. Nó là cháu gọi thầy Thông bằng cậu đấy. Tội nghiệp. Cầu Ván mùa mưa năm nào cũng có người ngã. – Ông cụ thở dài. – Anh mới lên, việc nhiều, cứ để thầy Thông lo. Đất này có lề có lối, anh à. Anh là người tốt, ta biết. Người tốt thì đừng vội.

Chẩn tiễn ông cụ ra tận cổng. Lên kiệu rồi, ông cụ còn ngoái lại, gật gù như người cha nhìn con đi thi.

Chẩn đứng nhìn theo một lúc, rồi quay vào gian nhà kho sau nha.

Cô Na đã ở đó. Cô đã mở cái hộp gỗ mang theo, bên trong là mấy con dao nhỏ, một cái kẹp tre, một que bạc dài, một mảnh gương đồng mài nhẵn, mấy cuộn vải trắng. Một thư lại trẻ được thầy Thông cử sang để ghi chép, ngồi ở cái bàn con trong góc, mài mực. Cậu ta trạc hai mươi tuổi, mặt trắng, tay áo sạch sẽ, tên là Phù Văn Lịch.

– Cô cứ làm, – Chẩn nói. – Nói to lên để Lịch chép.

Cô Na gật đầu. Cô không nhìn anh nữa. Cô nhìn người nằm trên tấm phản.

– Người chết tên Hà Văn Mộc, ba mươi ba tuổi, thủ kho gò Mít. Vớt được dưới chân Đá Ngựa sáng mồng Một tháng Năm.

Ngòi bút của Lịch chạy trên giấy, sột soạt.

– Hai bàn tay mở, ngón tay duỗi, không nắm. Trong móng tay không có cát, không có bùn sông, không có cỏ rác. – Cô nâng một bàn tay lên, nghiêng về phía cửa sổ. – Có đất đỏ, nhưng đất đỏ ăn sâu dưới móng, khô từ trước, không phải đất mới bám.

Chẩn khẽ gật. Tối qua móng tay ấy đã viền đất đỏ.

– Mũi và miệng không có bọt. Bụng không trướng nước. – Cô ấn nhẹ lên bụng, rồi lên ngực. – Người còn sống mà rơi xuống nước thì tay nắm lại, cào vào bất cứ thứ gì, trong móng có cát có bùn. Người ấy cố thở, nước vào phổi, bọt trào ra mũi miệng, có khi đến tận sáng hôm sau vẫn còn. Anh Mộc không có những dấu ấy.

Cô cúi xuống sát mặt người chết, rồi đứng thẳng lên.

– Trong miệng không có mùi rượu. Mùi rượu chỉ ở vạt áo trước, nồng nhất ở ngực áo, càng xuống dưới càng nhạt. Như có ai cầm cái chai đổ từ trên cổ áo xuống.

– Nước sông không rửa trôi mùi rượu à? – Chẩn hỏi.

– Rửa được ở ngoài. Nhưng rượu ngấm trong lần vải kép ở cổ áo thì còn. Còn nếu anh ấy uống say thật, người ấy ngâm nước một đêm thì miệng cũng vẫn còn hơi rượu. Cha tôi khám bốn người say ngã sông, người nào cũng thế.

Cô luồn tay vào sau gáy người chết, gạt tóc ra.

– Phía sau đầu, bên trái, có một chỗ sưng mềm, to bằng quả trứng gà. Da không rách. – Cô ngừng lại một chút. – Đập vào một thứ cứng và phẳng. Không phải đá cuội dưới suối, vì đá cuội tròn, để lại vết nhỏ. Đây là một mặt phẳng, rộng.

– Như một bậc thềm, – Chẩn nói.

Cô Na ngẩng lên nhìn anh lần đầu tiên từ lúc vào gian nhà.

– Như một bậc thềm.

Ngòi bút của Lịch dừng lại. Cậu ta nhìn từ cô Na sang Chẩn rồi lại cúi xuống giấy, viết tiếp, nhưng chậm hơn.

– Kết lại cho Lịch chép, – Chẩn nói.

– Anh Hà Văn Mộc không chết đuối. Anh ấy chết trước khi xuống nước. Chết vì đầu đập vào một mặt cứng phẳng. Đập tự ngã hay bị xô, tôi không nói được. Mùi rượu là rượu đổ lên áo, không phải rượu uống.

Chẩn cầm tờ biên bản Lịch vừa chép, đọc lại một lượt, rồi ký tên và đóng ấn châu. Đó là tờ giấy đầu tiên anh đóng ấn ở Hạ Lũng.

Buổi chiều, anh dẫn Lịch ra quán rượu đầu cầu Ván. Bà Thoa chủ quán là một người đàn bà to béo, giọng ồ ồ, vừa thấy quan châu bước vào đã lật đật lau ghế.

– Thằng Mộc à? Tối qua nó có ghé, quan ạ. Đầu canh một. Ngồi đúng cái ghế quan đang ngồi đấy. Uống hai chén nhỏ, chén bằng cái hạt mít ấy, rồi thôi. Tôi còn bảo, uống thêm chén nữa cho ấm bụng, nó lắc đầu, bảo phải đi có việc.

– Anh ấy đi lúc nào?

– Gần hết canh hai, quan ạ. Tôi đang dọn hàng.

– Đi về phía nào?

Bà Thoa chỉ tay. Không phải về phía cầu Ván, chỗ dẫn sang xóm Bên Suối, nơi nhà Mộc ở. Bà chỉ ngược lên con đường sỏi dẫn vào trấn, rồi từ trấn rẽ lên gò.

– Tôi cũng lạ, nhà nó bên kia suối cơ mà. Nhưng tôi nghĩ chắc nó đi lên kho. Thủ kho mà, có khi đêm hôm cũng phải lên.

– Lúc ấy trời mưa chưa?

– Chưa, quan ạ. Tôi dọn hàng xong, đóng cửa, lên giường nằm một lúc mới mưa. Mưa to lắm.

Chẩn cảm ơn bà, đứng dậy. Ra khỏi quán, anh bảo Lịch đi cùng mình lên gò Mít.

Lịch theo sau, im lặng một quãng, rồi mới dám hỏi:

– Bẩm quan, sao quan biết anh Mộc lên gò?

Chẩn chỉ xuống con đường dưới chân. Sỏi đen, lẫn cát suối, ướt sau trận mưa đêm. Rồi anh chỉ lên trước mặt, nơi con đường bắt đầu leo dốc và sỏi đen nhường chỗ cho một màu đỏ quạch, đỏ như gạch non.

– Cha tôi hay nói, miệng người ta biết nói dối, chứ bùn dưới chân thì không biết.

Lịch nhìn xuống đôi giày vải của mình. Mũi giày đã dính một vệt đỏ.

Kho gò Mít nhìn gần còn to hơn nhìn từ dưới sông. Một dãy nhà dài sáu gian, mái gianh dày, cột gỗ nghiến to bằng hai vòng tay, sàn ván kê cao ngang gối người lớn để thóc khỏi ẩm. Trước cửa kho có năm bậc đá ong, mặt bậc phẳng lì, mòn vẹt ở giữa vì người khiêng thóc lên xuống suốt bao nhiêu năm. Cửa kho đóng, khóa đồng to bằng bàn tay.

Bên cạnh kho có một cái chòi canh nhỏ lợp lá cọ. Hai người lính canh đang ngồi trong chòi. Thấy quan châu, cả hai lật đật chạy ra quỳ.

Người lớn tuổi hơn, trạc ba mươi, người chắc nịch, mặt vuông, tên Nông Văn Sầm. Người nhỏ hơn, gầy nhom, chừng mười tám mười chín, tên Hoàng Văn Ngoạn. Cậu Ngoạn quỳ mà hai bàn tay cứ xoắn vào vạt áo.

Chẩn không hỏi họ ngay. Anh đi một vòng quanh bậc đá ong. Anh cúi xuống nhìn bậc thứ năm, bậc trên cùng sát ngưỡng cửa. Mặt đá sạch, như vừa được ai dội nước. Bậc thứ tư cũng sạch. Ba bậc dưới thì còn vương đất đỏ của đêm mưa.

Cô Na đã đi theo lên từ lúc nào. Cô không đến gần hai người lính. Cô đi dọc cái rãnh thoát nước chạy bên hông kho, nơi nước mưa từ mái gianh đổ xuống, đào thành một con mương nhỏ đầy cỏ may. Đến chỗ rãnh vòng qua góc kho, cô dừng lại, cúi xuống, thò tay vào bụi cỏ.

Khi cô đứng lên, trong tay cô là một chiếc dép rơm tết. Quai dép đứt một bên. Đế dép đỏ quạch.

Nó giống hệt chiếc dép còn ở chân Hà Văn Mộc.

Chẩn quay lại nhìn hai người lính canh. Ngoạn đã cúi gằm mặt xuống đất. Sầm thì vẫn ngẩng lên, mặt không đổi sắc.

– Đêm qua ai gác kho? – Chẩn hỏi.

– Bẩm quan, hai con, – Sầm đáp ngay, giọng rành rọt. – Chúng con ngồi trong chòi suốt đêm. Cả đêm không có ai lên gò cả.

— Hết chương 2 —

Mục lục Kho thóc không có mọt

  1. 1Con mọt trong bát cơm11 phút
  2. 2Chiếc dép dính đất đỏ11 phút đọc
  3. 3Ngọn đèn chòi canh11 phút đọc
  4. 4Hai cái đấu nhà Tăng Ký10 phút đọc
  5. 5Chiếc đũa đo đáy đấu11 phút đọc
  6. 6Hộp trầu bạc chạm hoa cúc10 phút đọc
  7. 7Chín trăm bao không có mọt10 phút đọc
  8. 8Những cái đinh không gỉ10 phút đọc
  9. 9Bốn sào ruộng nhà họ Phù9 phút đọc
  10. 10Thóc của chủ Lộc vào nồi dân9 phút đọc
  11. 11Nén bạc trong gối mây9 phút đọc
  12. 12Chữ Lục khắc trên mặt nén9 phút đọc
  13. 13Người đàn bà ở Khau Lả9 phút đọc
  14. 14Hàm răng trắng của thầy Thông9 phút đọc
  15. 15Quyển thi trong chồng quyển hỏng9 phút đọc
  16. 16Bàn tay người cầm lái10 phút đọc
  17. 17Phiên thứ nhất ở phủ thành9 phút đọc
  18. 18Hai phòng, một câu hỏi9 phút đọc
  19. 19Bảy tấm ván9 phút đọc
  20. 20Thóc nương về kho9 phút đọc

Về truyện này

Kho thóc không có mọt là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →