Chương 1: Cái hũ đói lúc ba giờ sáng
– Con ơi, dậy. Cái hũ nó đói rồi.
Bà Tảo đứng ở chân giường, một tay cầm cái gáo dừa, một tay vịn cột màn. Ngoài trời tối đen. Trên núi Ngưng Hà, chuông canh tư của tông môn vừa đánh xong, tiếng ngân còn lăn xuống tới mái nhà. Đọng nằm im thêm một nhịp thở, rồi ngồi dậy. Bốn mươi mốt năm nay, chưa có đêm nào bà Tảo quên giờ này, kể cả cái tháng bà không nhớ nổi tên con.
– Vâng, con dậy đây. Bu đi trước đi, kẻo trơn.
– Bu biết đường. Bu đi đường này từ hồi mày còn đỏ hỏn.
Bà đi trước, chân trần, cái lưng còng như cái cán gáo. Đọng xỏ guốc, thắp ngọn đèn dầu lạc treo ở cột bếp, đi theo ra sân sau.
Cái giếng nằm giữa sân, thành xây đá ong, miệng tròn vừa một vòng tay người. Bên cạnh giếng, trên bệ gạch có mái che, là cái hũ sành da lươn cao tới đầu gối, nắp gỗ, dây gai buộc chéo. Trong hũ là nước cái, thứ nước chua giữ từ mẻ đậu trước sang mẻ đậu sau, nhà làm đậu nào cũng có. Chỉ có điều nhà khác đổ đi thay mới mỗi tháng, còn hũ này, theo lời bà Tảo, chưa thay lần nào.
Bà Tảo cởi dây, mở nắp. Mùi chua dịu bốc lên, thơm như mùi cơm mẻ để trong bếp ấm. Đọng thả gàu xuống giếng, kéo lên nửa gàu nước, rót vào cái gáo bà cầm. Bà nghiêng gáo, rót một dòng nhỏ vào hũ, nhỏ như sợi chỉ.
– Ăn đi, ăn đi. Ngoan. – Bà lẩm nhẩm.
Rồi bà đậy nắp, buộc dây, buộc thắt nút kiểu con bướm, kéo thử hai lần. Xong việc, mặt bà giãn ra như người vừa trả xong món nợ. Đọng dìu bà vào giường. Lúc kéo chăn cho bà, anh nghe bà hỏi:
– Thằng nhỏ của cô Lắng đâu rồi? Nó ăn chưa?
– Ăn rồi bu ạ. Bu ngủ đi.
Anh không hỏi cô Lắng là ai. Hồi đầu năm, bà gọi anh là ông Cối, tên bố nuôi đã mất mười chín năm. Hồi tháng Năm, bà gọi anh là chú, chào anh như chào khách. Cái tên Lắng mới có từ tháng Sáu. Thầy lang Bổng bảo người già lẫn thì nhặt tên cũ trong trí nhớ như nhặt hạt đậu rơi, nhặt được hạt nào thì gọi hạt ấy.
Đọng quay ra bếp. Ba giờ rưỡi là giờ xay.
Đậu tương ngâm từ chiều hôm trước, nở căng, vỏ nứt. Anh vớt đậu vào rá, xả nước suối cho sạch nhớt, rồi ngồi xuống bên cối đá. Cối đá xanh, hai thớt, mài từ đời ông Cối. Tay trái anh múc đậu, mỗi lần một muỗng con, đổ vào lỗ cối, tay phải quay. Đậu nát thành dòng bột trắng chảy xuống máng, mùi ngai ngái của đậu sống quện với mùi đá ướt.
Quay cối cũng là lúc Đọng tu. Người tông môn trên núi ngồi thiền trong tĩnh thất, hít vào bảy nhịp, thở ra chín nhịp. Đọng không có tĩnh thất. Anh hít vào lúc tay đẩy cối đi nửa vòng, thở ra lúc tay kéo cối về. Khí núi Ngưng Hà theo nước mà lên, nước giếng nhà anh lại đầy khí, nên mỗi sáng xay đậu, anh hít được một ít, để nó lắng xuống đan điền, chậm như bột lắng đáy chậu. Hai mươi chín năm làm vậy, anh lên được Luyện Khí tầng sáu, mà mười một năm gần đây thì đứng yên ở đấy.
Đứng ở đấy không phải vì lười. Ai tu cũng biết: khí lắng thì loãng như sữa đậu, mà muốn bước qua những bậc lớn, từ tầng ba lên tầng bốn, tầng sáu lên tầng bảy, tầng chín lên Trúc Cơ, thì khí phải đông. Khí không tự đông được. Phải có mồi, một giọt khí đã đông của người cảnh cao hơn, trao tận tay. Đệ tử tông môn có thầy trao mồi. Tán tu như Đọng thì không có thầy.
Bốn giờ, xay xong. Anh đổ bột vào túi vải màn, treo lên giá gỗ hình chữ thập, lắc cho nước đậu chảy xuống nồi gang, vắt kỹ, vắt tới khi bã khô như nắm bông. Bã để riêng một rổ, sáng ra bà Ba Sắn bên cạnh mua về nuôi lợn, một đồng một rổ. Nước đậu đun lửa liu riu bằng củi sim, khuấy đều cho khỏi khê đáy. Khi nước sôi lăn tăn và mặt nồi kéo màng mỏng, anh nhắc nồi xuống, đợi bớt nóng.
Đây là lúc điểm đậu. Điểm non thì đậu bở, điểm già thì đậu chai, điểm nhanh thì đậu vón cục như óc đậu vỡ. Anh múc nước cái từ hũ ra một cái âu, đứng cạnh nồi, tay trái cầm âu, tay phải cầm muôi gỗ.
Nhưng tay trái anh dừng lại giữa chừng.
Nước đậu trong nồi đã đông.
Không phải đông cả nồi. Mép nồi đã nổi những vẩy trắng mịn, như hoa cau rụng trên mặt ao, và chúng đang lan dần vào giữa. Không một giọt nước cái nào được đổ vào. Đọng đứng nhìn, cái âu còn nguyên trong tay. Hai mươi chín năm đứng bếp, anh chưa thấy nồi nào tự đông.
Anh đặt âu xuống, cúi sát mặt nồi. Hơi nóng phả vào mắt. Những vẩy đậu không đông đều như mọi khi, mà kết thành những đường ngoằn ngoèo, giống mạch lá. Anh nhúng ngón tay vào chỗ còn lỏng, rồi đưa lên mũi ngửi. Không chua. Không có gì lạ, chỉ có mùi đậu.
– Ba vòng thuận, một vòng nghỉ, – tiếng bà Tảo vọng ra từ buồng, nửa hát nửa nói như mỗi sáng. – Rót cho bằng sợi chỉ, đông cho bằng mặt nước...
Bà hát trong mơ. Bài hát này bà hát lúc điểm đậu suốt bốn mươi năm, giọng lên giọng xuống như ru con. Hồi nhỏ Đọng cứ ngỡ bài ấy ai làm đậu cũng biết. Lớn lên xuống chợ dưới xuôi, hỏi mấy nhà làm đậu khác, chẳng ai biết.
Anh không nghĩ thêm nữa. Đậu đã đông thì phải ép, để thêm một khắc là chai. Anh múc óc đậu vào khuôn.
Nhà anh có bốn cái khuôn. Ba cái mới, đóng bằng gỗ mít, mua ở chợ phiên. Cái thứ tư cũ nhất, gỗ màu nâu sẫm gần đen, không biết gỗ gì, nặng gấp đôi khuôn mít, mép đã mòn nhẵn vì tay người. Lòng khuôn trơn, chỉ có dưới đáy, ở góc trái, khắc một chữ nhỏ bằng hạt gạo: "Đọng".
Tên anh lấy từ đấy. Bà Tảo kể, năm nhặt được anh, trong nhà có sẵn cái khuôn khắc chữ, bà nghĩ trời bảo thì cứ đặt theo, chứ ông Cối thì muốn đặt tên là Đỗ, cho hợp nghề. Đọng hỏi khuôn ở đâu ra, bà bảo khuôn của người ta để lại. Hỏi người ta là ai, bà bảo người ta đi xa rồi. Hồi ấy bà còn tỉnh, nói câu nào chắc câu ấy, mà vẫn không chịu nói thêm.
Anh múc óc đậu vào cả bốn khuôn, phủ vải, đặt ván, đè đá. Nước vàng rỉ ra theo khe khuôn, chảy xuống máng. Anh hứng một gáo nước ấy, đổ vào hũ, đúng như bà dặn: mẻ nào cũng phải trả lại cho hũ một gáo, để nó sống.
Năm giờ, trời bắt đầu hửng. Tiếng chim chào mào trên cây sấu đầu ngõ. Bà Ba Sắn mở cửa hàng bánh đúc bên cạnh, chào vọng sang:
– Anh Đọng ơi, hôm nay đậu có sớm không? Tôi lấy năm bìa, mai giỗ ông nhà.
– Có bà ạ. Mười lăm phút nữa.
Anh dỡ đá, mở khuôn.
Đậu ra khuôn trắng ngà, mặt mịn, bóp nhẹ thì đàn hồi như má trẻ con. Khách quen của tiệm vẫn gọi là đậu vân, vì mặt bìa đậu nhà này lúc nào cũng có những đường vân mảnh, nhạt màu hơn chỗ khác một chút, như vân đá cẩm thạch. Đậu nhà khác ép ra phẳng lì, đậu nhà bà Tảo ép ra có vân, mà vân mỗi ngày một khác. Người trên núi thích, bảo nhìn vân đoán được thời tiết. Người dưới trấn thích vì đậu béo. Bà Tảo thì bảo vân là do nước giếng, đừng có nghĩ nhiều.
Hôm nay, trên mặt cả mười sáu bìa đậu của lượt ép đầu, vân vẫn chạy như mọi khi, những đường mảnh tỏa ra như rễ cây. Nhưng có thêm một vết anh chưa từng thấy. Một đường thẳng, đậm hơn, chạy chéo từ góc trên bên phải xuống góc dưới bên trái, cắt ngang qua mọi đường vân khác. Bìa nào cũng có, ở cùng một chỗ, như có ai lấy dao vạch qua mười sáu bìa đậu cùng một lúc.
Đọng lấy ngón tay miết thử. Mặt đậu phẳng. Vết ấy không lõm, không nổi, chỉ khác màu.
Tiếng gõ cổng vang lên. Ba tiếng, đều và mạnh, không phải kiểu gõ của người mua đậu.
Ngoài cổng là một người đàn ông chừng năm mươi tuổi, mặc áo dài màu tro của chấp sự Ngưng Hà Tông, thắt lưng đeo thẻ ngọc khắc hình con sông cuộn sóng. Đi sau ông là hai đệ tử ngoại môn, đứa nào cũng ôm một cuộn giấy. Người dưới trấn đều biết mặt ông: chấp sự Hồ Khắc Vịnh, người mỗi quý xuống thu tiền thuế nước.
– Chưa tới kỳ thuế mà ông, – Đọng nói.
– Không phải thuế. – Ông Vịnh lấy trong tay áo ra một tờ giấy vàng, mở ra, đọc to, giọng đều như đọc sổ. – Lệnh của Đại trưởng lão Bạch Cảnh Thông, đóng dấu Tông Vụ Đường. Giếng nhà họ Đàm, số hai mươi bảy, phố Đầu Cầu, trấn Khe Nứa, là lỗ thất khí. Khí núi theo giếng ấy thoát ra ngoài, hao hụt tài sản của tông môn, làm trận Tụ Linh trên núi không đủ khí. Chủ nhà phải lấp giếng trước tiết Đông chí năm nay. Tông môn đền mười lượng bạc tiền công đào giếng mới ở chỗ khác.
Đọng nhìn tờ giấy. Chữ son, dấu đỏ, thật cả.
– Giếng nhà tôi đào từ trước khi tôi sinh ra, – anh nói. – Nước giếng này làm đậu bốn mươi năm. Lấp đi thì tôi lấy gì làm đậu?
– Anh đào giếng khác.
– Giếng khác nước khác. Ông ăn đậu nhà tôi mười năm, ông biết.
Ông Vịnh không cãi. Ông ăn đậu nhà này thật, sáng nào xuống trấn thu thuế cũng ghé mua hai bìa đậu rán. Ông gấp tờ lệnh làm tư, đưa tận tay Đọng, giọng hạ xuống.
– Tôi chỉ là người đưa giấy, anh Đọng ạ. Lệnh của Đại trưởng lão, cả tông không ai cãi được. Anh còn ba tháng rưỡi. Đi tìm mạch nước khác dần đi, nước suối cũng được. Mười lượng là nhiều đấy.
– Không lấp được đâu.
Cả ba người quay lại. Bà Tảo đứng ở cửa bếp, đầu tóc rối, cái áo cánh nâu cài lệch một khuy. Bà dậy từ lúc nào không biết. Tay bà vẫn cầm cái gáo dừa.
– Cô Lắng dặn rồi. Không lấp được. Sáng nào cũng phải làm đậu, không được nghỉ buổi nào. Cô ấy dặn thế.
Ông Vịnh nhìn bà, rồi nhìn Đọng. Đọng khẽ lắc đầu, ý bảo bà lẫn. Ông chấp sự gật đầu, chắp tay chào bà rất lễ phép, rồi quay đi. Hai đệ tử theo sau, một đứa ngoái lại nhìn mấy bìa đậu trắng bày trên nong, nuốt nước bọt.
Đọng dìu bà vào. Bà để yên cho anh dắt, đi được ba bước thì đứng lại, nắm cổ tay anh, nắm rất chặt. Tay bà gầy, chỉ còn da với gân, mà chặt như kìm.
– Con đừng để người ta lấp, – bà nói, mắt không nhìn anh mà nhìn ra cái giếng. – Lấp giếng thì cô Lắng không thở được.
– Cô Lắng là ai hả bu?
Bà mở miệng, rồi đóng lại. Mắt bà lại mờ đi như mặt nước bị khuấy. Bà buông tay anh, hỏi anh có phải người mua đậu không, mua mấy bìa.
Đọng đưa bà vào buồng, rồi ra sân, đứng cạnh giếng.
Trời đã sáng hẳn. Sương thu đọng trên lá trầu leo bờ tường. Anh thả gàu xuống, kéo lên, định rửa tay. Nước trong gàu bốc hơi. Không phải hơi lạnh như mọi sáng tháng Tám, mà hơi ấm, mỏng, bay lên thẳng rồi tan. Anh nhúng tay vào. Nước ấm như nước người ta để phần rửa mặt cho trẻ con.
Bốn mươi mốt năm, giếng nhà anh chưa bao giờ ấm.
Anh nhìn xuống lòng giếng. Tối om, sâu hun hút, chỉ có một vòng sáng lóa nhỏ dưới đáy, là mặt nước phản chiếu trời. Trên vòng sáng ấy, rất mờ, như có ai vừa vạch một đường chéo.
— Hết chương 1 —
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe