AI Truyện
Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Bà khách hỏi đậu nhự ba năm

Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà · Chương 6/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Bà khách hỏi đậu nhự ba năm

Bà già tên Tiết Thị Mận, bảy mươi ba tuổi, trận sư đi rong, Trúc Cơ sơ kỳ. Bà nói những chuyện ấy ngắn gọn như đọc tên hàng, trong lúc ngồi bên bếp hong áo tơi, tay cầm bát nước gừng.

– Bà định ở trấn này lâu không ạ?

– Chưa biết. Anh cho tôi thuê cái gác kia. – Bà hất cằm lên cái gác xép trên bếp, chỗ để đậu tương và củi khô. Bà không nhìn thấy nó, nhưng bà biết nó ở đấy. – Năm đồng một ngày. Ăn gì anh nấu nấy.

– Gác ấy bụi lắm, lại nóng hơi bếp.

– Tôi cần cái nóng ấy.

Bà ở lại. Đêm đầu, Đọng nghe bà trở mình trên gác tới gần sáng. Ba giờ, bà Tảo dậy cho hũ ăn, anh ra theo như mọi đêm, thì thấy bà Mận đã ngồi sẵn ở bậc thềm, khoác áo tơi, gậy dựng bên cạnh, quay mặt về phía giếng. Bà không nói gì, không hỏi gì, chỉ ngồi nghe tiếng gàu thả xuống, tiếng nước rót vào hũ, tiếng bà Tảo lẩm nhẩm "ăn đi, ăn đi".

Lúc Đọng điểm đậu, bà Mận đứng sát bên nồi. Bà không thấy, nhưng bà nghiêng đầu nghe tiếng muôi khuấy, nghe tiếng nước cái rót. Bà đưa bàn tay lên trên miệng nồi, cách chừng một gang, hơ hơ như người hơ lửa.

– Anh khuấy hơi nhanh.

– Dạ. Bu cháu cũng bảo thế.

Ra khuôn, bà Mận xin cầm một bìa đậu. Bà đặt nó lên lòng bàn tay trái, tay phải sờ lên mặt đậu, chậm rãi, ba ngón tay lướt nhẹ như người mù đọc mặt người thân. Bà sờ dọc theo các đường vân. Tới vết chéo, ngón tay bà dừng lại, ấn nhẹ, rồi lần theo nó từ đầu này tới đầu kia.

– Vết này mấy hôm rồi?

– Hai mươi ba hôm, tính cả sáng nay.

Bà Mận gật, không nói gì thêm. Bà ăn bìa đậu ấy sống, chấm muối vừng, ăn chậm, nhai kỹ.

Mấy hôm sau, tiệm vẫn mở như thường, khách vẫn tới như thường. Bà Mận ngồi một góc hiên, chỗ khuất nắng, trước mặt là đĩa đậu nhự ba năm Đọng mở vò lấy cho. Đậu nhự ấy bà Tảo ủ từ hồi còn tỉnh, miếng đậu ngấu tới mức đỏ sẫm như son, mềm như bơ, ngửi thì nồng mà ăn thì béo ngậy. Bà Mận mỗi bữa ăn một miếng với cơm trắng, khen đúng một câu: "Ngấu đúng độ."

Thằng Chũn thì bám bà như bám mẹ. Nó hỏi bà trận sư là gì, có phải thầy bùa không. Bà bảo không, trận sư là người vẽ đường cho khí đi, như người đắp bờ cho nước chảy. Nó hỏi người không có linh căn có học vẽ trận được không. Bà bảo học vẽ thì được, chỉ không thắp trận lên được thôi, mà khối trận sư giỏi nhất miền xuôi có học trò không linh căn đứng vẽ hộ. Thằng Chũn ngồi im một lúc lâu, rồi lấy que vạch lên đất một vòng tròn, hỏi thế này có đúng không. Bà Mận sờ cái vòng nó vạch, bảo méo, vẽ lại. Nó vẽ lại mười lần, tới lần thứ mười, bà bảo được.

Bà cũng hỏi về nước chua chữa say khí. Đọng kể. Bà xin một bát, nhấp một ngụm, ngậm trong miệng lâu như người nếm rượu, rồi nuốt.

– Nước này kéo được khí xuống, vì nó mang hơi của nước cái. Nhưng anh cho người ta mãi thì cái hũ của anh lấy gì mà sống?

– Cháu vẫn trả cho hũ một gáo mỗi mẻ.

– Một gáo không đủ. Hũ còn bao nhiêu?

– Hai ngón tay.

Bà Mận im một lúc.

– Từ mai, mẻ nào anh cũng trả cho hũ hai gáo, lấy nước ép từ cái khuôn cũ kia, đừng lấy từ khuôn mít. Điểm thì khuấy đúng nhịp, rót nhỏ, đừng phí. Nước chua cho người bệnh thì lấy từ ba khuôn kia. – Bà nói như ra lệnh, rồi dịu giọng. – Hũ ấy mà cạn thì không có chợ nào bán đâu.

Đọng không hỏi vì sao bà biết khuôn cũ khác khuôn mít. Anh làm theo. Ba hôm sau, hũ lên được nửa ngón tay.

Chiều thứ bảy bà ở, có hai người từ trên núi xuống, ngồi vào bàn trong cùng.

Đọng nhận ra người con gái. Cô là đệ tử nội môn, hay xuống trấn mua chỉ, mua kim, tên Vũ Thanh Uyển, hai mươi tư tuổi, mới Trúc Cơ năm ngoái. Cả trấn biết chuyện ấy vì hôm cô Trúc Cơ, trên núi đánh chuông chín hồi. Người con trai đi cùng thì lạ mặt, áo xám ngoại môn, cao lêu nghêu, hai tay đầy vết chai kiếm.

Họ gọi hai bát tào phớ. Bát của người con gái ăn hết. Bát của người con trai nguội ngắt, không đụng thìa.

– Em nói lần cuối, – người con gái nói, không to, nhưng cả hiên nghe rõ. – Anh nhận đi. Em vắt ba ngày mới được giọt ấy.

– Anh không nhận.

– Vì sao?

– Vì anh không muốn lên tầng bảy bằng mồi của em. – Người con trai nắm chặt hai tay trên bàn. – Cả ngoại môn sẽ nói anh bám váy sư tỷ.

– Thế anh định kẹt ở tầng sáu cả đời à? Em sống được hai trăm năm. Anh mà kẹt ở tầng sáu thì được tám mươi là cùng. Anh muốn em làm góa phụ một trăm hai mươi năm à?

– Thì em đi tìm người khác.

Người con gái đứng bật dậy. Cái ghế tre bật ngửa ra sau, gãy một chân. Người con trai cũng đứng dậy, tay theo thói quen đặt lên chuôi kiếm. Mấy người khách khác vội bưng bát lùi ra. Bà Ba Sắn bên kia rào kêu lên một tiếng.

Bà Mận vẫn ngồi trong góc hiên, không đứng dậy. Bà cầm cây gậy, gõ ba cái xuống nền gạch, rồi vạch một đường cong từ chân bàn bên này sang chân bàn bên kia, nhanh như người ta quệt vôi.

– Hai cô cậu ngồi xuống đi.

– Bà là ai...

Người con trai bước một bước về phía bà, rồi đứng khựng lại, như vấp phải một bức tường không ai thấy. Anh ta thử bước lại lần nữa. Không qua được. Người con gái rút một lá bùa trong tay áo, giơ lên, rồi hạ xuống, mặt tái đi. Cô là Trúc Cơ, cô biết mình vừa đụng phải cái gì.

– Trận khóa chân, – bà Mận nói. – Trẻ con tập trận ở chỗ tôi ngày xưa hay vẽ. Hai cô cậu nói chuyện cho xong thì trận tự tan. Còn cái ghế gãy, ai gãy người ấy đền ông chủ năm đồng.

Rồi bà quay lại với đĩa đậu nhự, như chưa có chuyện gì.

Hai người kia đứng một lúc, rồi ngồi xuống, mỗi người một ghế, mặt nhìn hai phía. Mãi lâu sau, người con trai mới cất tiếng, giọng nhỏ hẳn đi.

– Bà ơi. Bà là trận sư, bà nói thử xem. Nhận mồi của người mình thương thì có phải là nợ không?

Bà Mận nhai nốt miếng cơm.

– Mồi không phải là nợ. Mồi là cái người ta cho vì người ta muốn mình đông lại được. Cậu không nhận thì cậu không đông. Cậu không đông thì người ta mất công vắt ba ngày. – Bà gắp thêm miếng đậu. – Mồi để lâu không hỏng. Còn người thì để lâu là hỏng đấy.

Người con trai cúi đầu. Người con gái quay sang nhìn anh ta. Đọng quay vào bếp, không nghe nữa.

Khi anh bưng ra hai bát tào phớ nóng mới, thay hai bát nguội, thì hai người đã ngồi sát vai nhau, lưng quay về phía hiên. Trên bàn có năm đồng, cạnh cái ghế gãy.

Trước khi đi, người con gái dừng lại ở góc hiên, chắp tay vái bà Mận. Bà Mận không nhìn thấy, nhưng gật đầu đáp lễ.

– Sư tỷ cho tôi hỏi một câu, – bà Mận nói. – Hàng cột mới trên sân Tụ Linh, trận ấy tên gì?

– Dạ, Trường Long Trận. Đại trưởng lão cho dựng để nối trận Tụ Linh xuống tận chân núi phía nam, hút khí sâu hơn. – Cô gái ngập ngừng. – Bà là trận sư, bà biết trận ấy à?

Bà Mận lắc đầu.

– Tôi không biết trận nào tên ấy. Tôi chỉ biết một trận giống nó. Cách đây lâu lắm rồi.

Hai người đi. Bà Mận ngồi im rất lâu. Đĩa đậu nhự còn nửa miếng, bà không ăn nữa.

Tối hôm ấy, đợi bà Tảo ngủ, bà Mận gọi Đọng lại.

– Anh mang hết khuôn ra đây cho tôi.

Anh mang bốn cái khuôn ra, xếp trên bàn. Bà Mận sờ từng cái. Ba cái khuôn mít, bà sờ qua rồi đẩy sang bên. Cái thứ tư, bà sờ lâu hơn hẳn. Bà vuốt mép khuôn, gõ gõ lên thành, áp tai vào nghe. Rồi bà luồn tay vào lòng khuôn, sờ xuống đáy, lần từng góc.

Ngón tay bà dừng lại ở góc trái, nơi có chữ khắc nhỏ bằng hạt gạo.

– Gỗ này là gỗ trầm hương thủy, mọc dưới đáy hồ, vớt lên phơi ba năm. Cả vùng này không ai có. – Bà sờ đi sờ lại chữ khắc. – Ai khắc chữ này?

– Bu cháu bảo khuôn của người ta để lại. Năm bu nhặt được cháu, trong nhà có sẵn cái khuôn khắc chữ, bu đặt tên cháu theo.

– Người ta là ai?

– Bu cháu không nói. Hồi còn tỉnh bu cũng không nói.

Bà Mận rút tay ra khỏi khuôn. Hai bàn tay bà đặt lên đùi, rồi nắm lại, như người cố giữ cho tay khỏi run.

– Người khắc chữ này là đàn bà. Thuận tay trái, vì nét ngang kéo từ phải sang. Nét móc ở cuối chữ cong như lưỡi câu, kiểu chữ người miền núi học từ chữ khắc trên bia đá. – Bà nói chậm, từng câu, như đọc một bản đồ trong trí nhớ. – Tôi biết nét chữ này. Tôi từng sờ nó trên một tấm da dê, cách đây bốn mươi mốt năm. Tấm da ấy vẽ đường mạch dưới lòng núi Ngưng Hà.

Ngoài sân, mưa phùn lại rơi. Tiếng mưa lắc rắc trên lá trầu.

– Bà nói thế là sao ạ?

Bà Mận không trả lời. Bà đứng dậy, cầm gậy, mò đường lên thang gác. Lên được nửa thang, bà dừng lại.

– Sáng mai, anh để riêng cho tôi mười hai bìa đậu. Bìa nào cũng phải ép trong cái khuôn ấy. Mười hai bìa, ép liền nhau, đừng để ai đụng vào.

– Một khuôn chỉ ép được bốn bìa một lần, bà ạ.

– Thì ép ba lần.

— Hết chương 6 —

Mục lục Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà

  1. 1Cái hũ đói lúc ba giờ sáng8 phút
  2. 2Giọt mồi giá bao nhiêu9 phút đọc
  3. 3Bát tào phớ của ông Ngạn9 phút đọc
  4. 4Rằm tháng Tám ở Đài Thử Đá10 phút đọc
  5. 5Mẻ đậu không chịu đông10 phút đọc
  6. 6Bà khách hỏi đậu nhự ba năm9 phút đọc
  7. 7Vân trên mặt đậu10 phút đọc
  8. 8Người đàn bà tên Lắng10 phút đọc
  9. 9Chén trà của Đại trưởng lão10 phút đọc
  10. 10Thằng Chũn gánh đất9 phút đọc
  11. 11Phiên chợ mùng Một10 phút đọc
  12. 12Đêm bà Tảo đi tìm cô Lắng10 phút đọc
  13. 13Mồi của người khác10 phút đọc
  14. 14Lên núi lần thứ ba10 phút đọc
  15. 15Câu hát điểm đậu10 phút đọc
  16. 16Buổi sáng đầu tiên không có đậu9 phút đọc
  17. 17Nồi sôi dưới chân núi10 phút đọc
  18. 18Ba vòng thuận11 phút đọc
  19. 19Mồi chua11 phút đọc
  20. 20Hũ nước cái10 phút đọc

Về truyện này

Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →