Chương 11: Phiên chợ mùng Một
Mười chín đêm liền, tối nào Đọng cũng gánh hai vò nước chua lên Khe Đá.
Cai Quẩn đứng đợi ở cửa khe, đêm đầu khoanh tay, mặt lầm lì, đêm thứ ba đã ra tận gốc sung đón, đêm thứ năm thì tự cầm cái gáo dừa đi múc cho từng người. Phu say khí uống vào, người nào nặng thì một đêm đỡ, người nào nhẹ thì một khắc đã ngồi dậy được. Tới đêm thứ mười, trong lán trong không còn ai nằm. Cai Quẩn đưa Đọng một túi tiền, Đọng không nhận. Anh ta nhìn anh rất lâu, rồi dúi túi tiền vào tay thằng phu trẻ mắt đỏ, bảo mang xuống chợ mua cho nhà bà Tảo một bao gạo.
Một đêm, trên đường về, bà Mận đi cạnh anh, gõ gậy dò đường qua rừng lau. Bà hỏi:
– Anh có biết anh đang làm gì không?
– Cháu chữa cho người ta.
– Anh chữa cho người ta khỏe để người ta đào nhanh hơn. – Bà nói, không gay gắt. – Hầm càng nhanh tới lõi, Vân Cốt càng sớm bị cạy.
Đọng đi thêm một quãng mới trả lời.
– Người ta ốm thì phải chữa, bà ạ. Nếu cháu để họ nằm cho hầm chậm lại, thì cháu với ông Đại trưởng lão khác nhau ở chỗ nào?
Bà Mận không nói gì. Tới bãi tha ma đồi Sim, bà dừng lại một lúc trước nấm mộ ông Ngạn, rồi mới đi tiếp.
Mảnh đá thằng Chũn mang về, Đọng gói vào một mảnh vải trắng, cất trong cái hộp gỗ trên bàn thờ ông Cối, cạnh lọ mồi của ông Ngạn. Anh không mở ra nữa. Nhưng mỗi sáng thắp hương, đứng trước bàn thờ, anh vẫn thấy cái vẩy trắng nhỏ trong đan điền mình nằm đó, chờ, như một người khách ngồi ở hiên không chịu về.
Bà Mận bảo anh điểm đậu hai lần một ngày. Một lần lúc bốn giờ sáng như cũ, một lần lúc bốn giờ chiều. Mỗi lần điểm, ở dưới sâu, một lớp đá mỏng như hạt đậu lại đông thêm lên vỏ Vân Cốt. Hầm của cai Quẩn đào vào bao nhiêu, nồi đậu nhà họ Đàm đắp lại được bấy nhiêu, hay chí ít là được một ít. Bà tính, nếu điểm đủ hai lần, đúng nhịp, không phí nước cái, thì có thể làm chậm cái hầm lại được chừng mười ngày.
– Mười ngày thì làm được gì ạ?
– Không biết. – Bà Mận nói. – Nhưng mười ngày còn hơn không ngày nào.
Hai mẻ một ngày thì đậu thừa. Đọng đem bán rẻ, rồi cho không. Bà Ba Sắn đem đậu thừa đi rán, bán kèm bánh đúc. Đậu chiều thì không có vân rõ như đậu sáng, nhưng vẫn béo. Người trấn ăn đậu nhà Đọng ngày hai bữa, không ai hiểu vì sao anh làm nhiều thế.
Sáng mùng Một tháng Mười là phiên chợ lớn.
Chợ Khe Nứa họp ở bãi đất trống đầu cầu, ngay dưới gốc gạo, mỗi tháng ba phiên, phiên mùng Một là đông nhất. Người miền xuôi lên bán vải, bán muối, bán nồi đồng. Người trên núi xuống mua thịt, mua rượu, mua chỉ. Người bản trên đèo xuống bán măng khô, mật ong, thuốc lá cuộn. Tiếng gà vịt kêu, tiếng rao bánh rán mật, tiếng trống của gánh hát rong, mùi thịt nướng, mùi rơm rạ, mùi phân trâu. Thằng Chũn đã khỏi hẳn, kéo bà Tảo đi xem gánh xiếc khỉ. Bà Tảo cười như con nít, mỗi lần con khỉ lộn nhào lại vỗ tay.
Đọng bày hàng ở góc chợ như mọi phiên: một nong đậu trắng, một chảo đậu rán, mấy vò đậu nhự. Thêm một cái vò sành to đựng nước chua, cắm cái biển tre bà Ba Sắn viết hộ: nước chua chữa say khí, cho không.
Gần trưa, một người đàn ông béo tròn, mặc áo the đen, đội khăn xếp, đứng lại trước hàng rất lâu. Ông ta không nhìn đậu, chỉ nhìn cái vò nước chua.
– Anh là chủ hàng này?
– Dạ.
– Nước này chữa được say khí thật à?
– Ông hỏi thầy lang Bổng trong trấn thì biết.
– Tôi hỏi rồi. – Ông khách cười, hai má rung rung. – Tôi họ Tào, buôn thuốc ở bến Đồng Xuyên. Dưới xuôi năm nay có ba trấn gần núi bị say khí, người ta đổ xô đi tìm thuốc. Tôi trả anh ba mươi lượng, anh dạy tôi cách làm nước này.
– Không dạy được đâu ông. Nước này chỉ nhà cháu làm được.
– Thế tôi mua cả hũ nước cái của anh. Một trăm lượng.
Đọng nhìn ông ta. Một trăm lượng là tiền mua được ba căn nhà ở phố Đầu Cầu.
– Không bán ạ.
– Một trăm năm mươi.
– Ông ạ, hũ ấy mẹ cháu gửi. – Đọng nói. – Ông trả bao nhiêu thì cũng là hũ của mẹ cháu.
Lái Tào nhướng mày, định nói thêm, rồi lại thôi. Ông ta mua hai bìa đậu nhự, nếm thử một miếng ngay tại chỗ, chép miệng khen, rồi đi.
Đầu giờ chiều, chấp sự Hồ Khắc Vịnh xuống chợ, đi cùng ông trưởng phố Lưu Văn Bính và hai đệ tử. Ông Vịnh dán lên thân cây gạo một tờ cáo thị giấy vàng, rồi đứng lên cái bục gỗ của gánh hát, đọc to.
Cáo thị của Tông Vụ Đường. Để phòng mạch núi bất ổn trong mùa đông, tông môn khuyên các hộ ở phố Đầu Cầu và các phố dọc suối Nứa, từ cầu đá xuống tới bãi lau, tạm dời đi nơi khác. Dời trước tiết Đông chí, ở tới hết tháng Giêng. Mỗi hộ được tông đền mười lượng bạc tiền dời nhà, và năm lượng mỗi tháng tiền thuê chỗ ở. Hộ nào không dời thì tự chịu.
Cả chợ ồ lên.
– Tông bảo mạch núi bất ổn à? Thế là có chuyện thật à?
– Mười lượng một hộ! Nhà tôi bé như cái lỗ mũi mà được mười lượng!
– Ở hết tháng Giêng thì Tết ăn ở đâu?
Đọng đứng sau nong đậu, nghe từng tiếng. Anh hiểu ngay. Bạch Cảnh Thông không ngu. Ông ta tính sai thì ông ta là người đầu tiên chết, nhưng ông ta không để người trấn chết cùng. Ông ta dời người đi. Cái đường chéo trên mặt đậu, cái đường chạy qua phố Đầu Cầu xuống bãi lau, chính là cái đường trong tờ cáo thị.
Ông trưởng phố Lưu Văn Bính gọi mọi người họp ngay tại chỗ, dưới gốc gạo. Người kéo tới đông nghịt.
Ông thợ rèn đầu phố nói trước. Ông bảo nhà ông có ba đứa con nhỏ, đứa giữa đã say khí hai lần, ông nhận tiền dời đi, lên ở nhờ nhà ông anh trên đèo. Mấy nhà nữa gật gù theo. Bà bán chiếu bảo tông đã nói mạch bất ổn thì là bất ổn, ai ở lại là liều. Ông bán rượu bảo dời đi hai tháng mất hết khách quen, nhưng mười lượng cũng đáng.
Bà Ba Sắn đứng lên, tay chống nạnh.
– Nhà tôi bán bánh đúc ở đây ba đời. Tông bảo dời là dời à? Tông có bảo cái mạch núi bất ổn vì đâu không? Hay là tại mấy cái cột trên núi?
– Bà Ba nói linh tinh gì thế! – Có người quát.
– Linh tinh à? Con Mít nhà tôi say khí hai lần. Ai chữa? Thuốc tông à? Nước chua nhà anh Đọng chữa.
Mọi người quay sang nhìn Đọng. Anh đứng thẳng lên.
Anh không quen nói trước đông người. Hai mươi chín năm, câu dài nhất anh nói ở chợ là giá đậu. Nhưng anh nói. Anh kể chuyện cái giếng, chuyện vân đậu, chuyện cái hầm ở Khe Đá. Anh không kể chuyện mẹ anh. Anh bảo người trấn đừng uống nước chưa đun, nhà nào có trẻ con thì lấy nước chua về để sẵn. Anh bảo ai muốn dời thì cứ dời, không ai trách. Nhưng cái hầm ở Khe Đá mà đào tới chỗ cần đào, thì dời đi cách mấy con phố cũng không chắc là xa.
Người ta nghe, rồi người ta xì xào. Ông thợ rèn lắc đầu bảo anh Đọng bán đậu lâu ngày nhìn đâu cũng ra đậu. Có người cười. Có người không cười.
Rồi bà Mận đứng dậy. Bà đứng ở mép đám đông, tay chống gậy, mặt quay về phía tiếng người đông nhất.
– Tôi là Tiết Thị Mận, trận sư. Bốn mươi mốt năm trước, tôi là người vẽ trận Tụ Linh chín cột trên núi, và là người khắc tảng đá bịt cái giếng nhà họ Đinh ở phố Đầu Cầu.
Cả bãi chợ im phắc. Mấy người già đứng hàng trước nhìn nhau. Thầy lang Bổng, đang đứng ở rìa, cởi cái nón ra cầm tay.
– Mùa đông năm ấy, cả trấn này say khí, nửa đêm mở cửa đi lên núi. Ai đủ già thì nhớ. – Bà Mận nói, giọng không to, nhưng rõ từng chữ. – Tôi làm mù mắt mình vì cái trận ấy. Năm nay người ta dựng một trận to hơn, và đào một cái hầm sâu hơn. Tôi không xin các ông các bà tin tôi. Tôi chỉ xin các ông các bà đừng uống nước chưa đun.
Bà ngồi xuống. Một lúc lâu không ai nói gì.
Rồi một bà già răng đen, bán trầu ở góc chợ, run run đứng lên.
– Năm ấy tôi hai mươi hai tuổi, – bà nói. – Tôi bế con đi lên núi, tỉnh dậy thấy mình nằm ở bậc thứ năm trăm. Con tôi khóc khản cả cổ trong tay tôi.
Bà ngồi xuống. Không ai cười nữa.
Họp xong, mười một hộ nhận tiền dời đi, hai mươi tư hộ ở lại. Ông trưởng phố ghi tên vào sổ. Ông Vịnh đứng ở gốc gạo nhìn Đọng rất lâu, rồi lặng lẽ đi về phía bậc đá, không nói câu nào.
Tối ấy, nhà Đọng ăn cơm muộn. Thằng Chũn kể chuyện con khỉ xiếc biết đánh trống. Bà Tảo vẫn còn cười. Bà Mận ăn một bát rồi lên gác. Đọng điểm xong mẻ đậu chiều, dọn bếp, ngồi ghi vân lên giấy dưới ngọn đèn, như mọi đêm.
Vết chéo hôm nay đậm như vết mực tàu. Cái rốn ở giữa bìa đậu, vốn nhạt dần suốt tháng Chín, hôm nay lại đậm lên một chút. Đọng nhìn mà không biết đấy là tốt hay xấu.
Anh đi ngủ lúc gần mười một giờ.
Ba giờ sáng, anh tỉnh dậy, không phải vì có người gọi. Anh tỉnh dậy vì không có ai gọi.
Anh nằm im, nghe. Chuông canh tư trên núi đã đánh. Trong nhà im phắc. Không có tiếng chân trần trên nền gạch. Không có tiếng gáo dừa chạm thành giếng.
Anh chạy sang buồng bà Tảo. Giường trống. Chăn gấp gọn gàng, gấp kiểu bà vẫn gấp hồi còn tỉnh, bốn góc vuông vức.
Anh chạy ra sân sau. Trên bệ gạch cạnh giếng, cái hũ sành da lươn không còn ở đấy.
— Hết chương 11 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe