AI Truyện
Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Giọt mồi giá bao nhiêu

Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà · Chương 2/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Giọt mồi giá bao nhiêu

Sáu giờ sáng, Ôn Thị Rạng chạy xuống hết một nghìn tám trăm bậc đá, tới cổng tiệm thì thở như ống bễ, hai cái thúng tre lắc lư ở hai đầu đòn gánh.

– Chú Đọng, hai mươi bìa như mọi khi ạ. À không, hôm nay bếp trên dặn thêm một câu. – Con bé chống gối thở, đọc lại như học thuộc lòng. – Bìa nào vân rõ nhất thì xếp lên trên cùng, lót lá chuối riêng.

– Bếp trên là ai dặn?

– Thì sư phụ bếp dặn. Sư phụ bảo trên bảo. Cháu đâu dám hỏi trên là ai.

Rạng mười bảy tuổi, đệ tử ngoại môn ở bếp Ngưng Hà Tông, mặc áo vải xám bạc vai, búi tóc cắm một cái thìa gỗ thay trâm. Ba năm nay, sáng nào cũng là nó xuống mua đậu. Đọng không nhớ nổi có buổi nào nó không tới. Kể cả hôm bão tháng Bảy năm ngoái, nó trùm áo tơi xuống, rồi cởi áo tơi ra trùm lên thúng, người ướt như chuột lột mà hai thúng đậu khô cong.

Anh xếp đậu vào thúng. Bìa nào cũng có vết chéo đậm. Anh chọn hai bìa vân rõ nhất, lót lá chuối, đặt lên trên.

Rạng cúi nhìn.

– Ơ, chú làm rơi dao vào khuôn à? Sao bìa nào cũng có vạch?

– Không phải dao. Tự nó ra thế.

– Lạ nhỉ. – Nó nghiêng đầu, rồi bỏ qua, vì chuyện của nó còn to hơn. – Chú ơi, cuối năm nay cháu lại không được dự khảo hạch.

– Sao thế?

– Sư phụ bếp bảo khảo hạch chỉ dành cho người tầng bốn trở lên. Cháu kẹt tầng ba hai năm rồi. Muốn lên tầng bốn phải có mồi, mà mồi thì chỉ phát cho người qua khảo hạch. – Nó cười, cái kiểu cười của người kể chuyện cười mà không ai cười. – Chú thấy có buồn cười không. Phải lên tầng bốn mới được thi, thi đỗ mới được mồi, có mồi mới lên tầng bốn.

Đọng biết cái vòng ấy. Ở Ngưng Hà Tông, một giọt mồi tầng bốn là một giọt khí đã đông, của một người ít nhất tầng năm. Người ấy ngồi ba ngày ba đêm vắt nó ra từ đan điền mình, nhỏ vào một lọ sứ trắng nhỏ bằng đốt ngón tay. Người cho mất ba tháng tu. Người nhận thì nuốt vào, ngồi định một đêm, khí đang loãng trong người gặp mồi sẽ đông lại từ giữa ra, như sữa đậu gặp nước chua. Mồi tông môn phát theo bảng tên, bếp đứng cuối bảng.

– Thế không xin được ai ngoài à?

– Luật tông cấm. Mồi người ngoài là mồi tạp. Ai nhận mồi tạp bị phạt xuống núi. – Rạng nhún vai. – Mà cháu cũng chẳng quen ai ngoài. Trừ chú.

– Chú thì tầng sáu, mồi của chú cho cháu được. Nhưng chú ngồi vắt ba ngày thì ai làm đậu?

Rạng phì cười, lần này cười thật.

– Thôi, chú cứ làm đậu. Cháu mà lên tầng bốn bằng mồi của chú, sư phụ bếp ngửi ra mùi đậu phụ ngay.

Nó xốc đòn gánh. Đúng lúc ấy, một bóng người từ trong kho chạy ra, gầy nhẳng, tóc dựng như tổ chim, giành lấy đòn gánh.

– Chị Rạng để em. Hai đồng thôi.

– Chũn, mày lại ngủ kho nhà chú Đọng à?

– Chú cho mà. – Thằng bé ngước nhìn Đọng, cười hở cái răng cửa sứt. – Đúng không chú?

Thằng Chũn mười hai tuổi, mồ côi từ năm sáu tuổi, sống bằng nghề gánh thuê lên núi. Phu gánh trấn Khe Nứa có hơn chục người, đứa nhỏ nhất là nó. Mùa đông năm ngoái, Đọng thấy nó ngủ co ro dưới mái hiên chợ, gọi về cho ngủ trong kho, chỗ để đậu tương, ấm và thơm. Nó ngủ ở đấy từ đấy, sáng sáng dậy rửa thúng, quét sân, rồi đi gánh. Đọng không trả công, nó cũng không đòi, cứ thế mà ở.

Rạng nhường đòn gánh cho nó, rút trong túi ra hai đồng. Chũn cầm tiền, ngẩng lên hỏi:

– Chị Rạng, rằm này tông có thử đá không chị?

– Có. Năm nào chẳng thử.

– Ai cũng được thử à?

– Ai dưới mười lăm tuổi đều được. Một đồng một lần đặt tay. – Rạng nhìn nó, giọng dịu xuống. – Mày định thử à?

Chũn không trả lời, chỉ cúi xuống buộc lại dây quang. Nhưng tai nó đỏ tới tận gáy.

Hai đứa đi rồi, Đọng đứng một lúc nhìn theo. Thằng Chũn bước lên bậc đá thứ nhất, cái đòn gánh lắc đều trên vai, hai thúng đậu nhún nhảy.

Năm mười hai tuổi, Đọng cũng leo một nghìn tám trăm bậc ấy, bà Tảo dắt tay, ông Cối gánh một thúng đậu lên biếu bếp. Đài Thử Đá nằm ở sân trước điện chính, khối đá trắng to bằng cái cối giã gạo, ai đặt tay vào mà có linh căn thì đá sáng. Sáng xanh là mộc, sáng đỏ là hỏa, sáng vàng là thổ. Đứa trước anh đặt tay, đá sáng xanh rực, cả sân reo. Tới lượt anh, đá không sáng, mà đục đi. Đục như nước vo gạo, từ chỗ tay anh lan ra, đục kín cả khối, rồi đứng yên ở đấy.

Ông trưởng lão chủ khảo cau mày, bảo cái này gọi là căn đục. Khí vào người thì lắng chứ không chạy. Tu như rùa bò. Không tông môn nào nhận. Ông bảo bà Tảo dắt anh về, cho đi học nghề.

Đọng nhớ ông Cối không nói gì suốt đường xuống núi. Tới bậc thứ một nghìn, ông đặt gánh xuống, ngồi nghỉ, rồi bảo:

– Rùa thì rùa. Rùa sống lâu.

Bà Tảo thì về tới nhà mới nói, mà nói một câu rất lạ:

– Đá nó đục là phải. Nhà này làm đậu.

Hồi ấy anh tưởng bà an ủi cho qua.

Cả buổi sáng, tiệm đông như mọi ngày. Bà Ba Sắn lấy năm bìa về làm giỗ. Mấy bà đi chợ sớm lấy đậu trắng. Phu gánh lấy đậu rán ăn với cơm nắm, hai đồng một miếng to bằng bàn tay. Hai tu sĩ trẻ đeo kiếm từ trên núi xuống, ngồi ghế tre ăn tào phớ nước gừng, ăn xong còn đòi thêm bát nữa. Ông thợ rèn đầu phố mua một bìa đậu nhự ba tháng, để nhắm rượu. Trưa, Đọng nghỉ tay, đem bã đậu sang cho bà Ba Sắn.

Chuyện lệnh lấp giếng đã chạy khắp phố.

– Mười lượng bạc cơ à? – Bà Ba Sắn hỏi, tay vẫn quấy nồi bánh đúc. – Mười lượng đủ đào ba cái giếng, anh Đọng ạ. Lấy đi. Tông môn mà đã ra lệnh thì có cãi cũng chẳng được.

– Đào giếng khác thì nước khác, bà ạ.

– Nước nào chẳng là nước. Đậu nhà anh ngon là do tay anh.

Đọng không cãi. Anh biết không phải do tay anh. Hồi ông Cối còn sống, có năm giếng cạn vì hạn, ông gánh nước suối về làm đậu ba hôm. Đậu ra khuôn trắng phau, phẳng lì, không một đường vân. Ăn vào nhạt như nhai bông. Khách quen trên núi gửi xuống hỏi sao đậu không có vân. Tới khi mưa xuống, giếng đầy lại, vân mới về.

Chiều, Đọng ngâm đậu cho mẻ mai. Anh múc nước giếng đổ vào chậu, nước vẫn ấm, ấm hơn buổi sáng. Anh nhúng nhiệt kế đồng của ông Cối vào, kim chỉ sang vạch thứ ba. Mùa thu, giếng nhà anh xưa nay kim chỉ nhích tới vạch một.

Tối, bà Tảo ăn được nửa bát cháo đậu, rồi đi nằm. Đọng ngồi ở hiên vá túi lọc. Thằng Chũn ở trong kho, đang tự lẩm bẩm gì đó, chắc là tập cách đặt tay lên đá.

Gần nửa đêm, cổng nhà bên đập rầm rầm.

– Anh Đọng ơi! Anh Đọng có thấy con Mít nhà tôi chạy sang đây không?

Bà Ba Sắn đứng ngoài cổng, tóc xõa, tay cầm cây đèn bão. Mít là cháu ngoại bà, bảy tuổi, con gái đứa con gái lấy chồng xa, gửi bà nuôi từ năm lên ba.

– Nó chảy máu cam từ chập tối, tôi nhét bông cho nó ngủ. Vừa mới quay ra đã không thấy đâu. Cửa còn cài then mà.

Đọng gọi Chũn dậy. Ba người chia nhau tìm. Bà Ba Sắn chạy ra phía chợ. Chũn chạy ra bờ suối. Đọng đứng ở đầu phố một lúc, rồi không hiểu sao, anh quay về phía núi.

Đường lên núi bắt đầu từ cuối phố Đầu Cầu, qua cây gạo, qua cái miếu thổ địa nhỏ, rồi mới tới bậc đá thứ nhất. Trăng mồng bốn đã lặn từ chập tối, trời chỉ có sao. Anh vặn to ngọn đèn bão, giơ cao lên, và thấy một bóng trẻ con mặc áo trắng, đầu trần, chân không, đang đi lên bậc đá. Đi đều, không vội, không vấp, như người lớn đi chợ.

– Mít!

Con bé không quay lại. Đọng chạy tới, nắm vai nó, xoay lại. Mắt nó mở to, nhìn thẳng mà không thấy anh. Hai lỗ mũi còn vệt máu khô. Người nó nóng hầm hập. Anh bế nó lên, nó không giãy, chỉ có hai bàn chân trần vẫn cứ bước bước trong không khí, như còn đang đi.

Anh bế nó về. Chũn đã chạy đi gọi thầy lang Bổng. Thầy sáu mươi tuổi, chân thấp chân cao, đến nơi vẫn mặc áo ngủ. Thầy vạch mi mắt con bé, sờ trán, rồi cúi xuống ngửi hơi thở nó. Một lúc lâu, thầy ngẩng lên, mặt khác hẳn.

– Say khí.

– Say khí là gì hả thầy? – Bà Ba Sắn hỏi, giọng run.

– Người phàm uống phải nước có nhiều khí núi quá, người không chứa nổi, thì sốt, chảy máu cam, ngủ li bì, nửa đêm dậy đi về phía núi. Khí trong người gọi khí trên núi, như nước gọi nước. – Thầy lấy trong túi ra một gói lá, sai bà Ba Sắn đi sắc. – Cho nó uống, sáng mai sẽ tỉnh. Mấy hôm nay nhà bà lấy nước ở đâu?

– Nước giếng nhà anh Đọng, như mọi khi. Hôm nay thấy nước ấm, tôi còn tưởng trời trở rét nên nước ấm.

Thầy Bổng quay sang nhìn Đọng. Đọng nhìn lại, không nói được câu nào.

Thầy đi ra cổng, chống gậy đứng dưới trời sao một lúc, rồi mới nói, như nói một mình:

– Bốn chục năm làm thuốc, tôi chưa gặp lại ca nào. Lần cuối tôi thấy người say khí là năm tôi mười chín tuổi. Mùa đông. Cả trấn này say, già trẻ bỏ nhà đi lên núi lúc nửa đêm. Rồi một sáng tự dưng hết. Không ai biết vì sao hết.

– Năm nào hả thầy?

Thầy Bổng quay lại, nhìn anh rất lâu.

– Năm bà Tảo nhặt được anh.

— Hết chương 2 —

Mục lục Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà

  1. 1Cái hũ đói lúc ba giờ sáng8 phút
  2. 2Giọt mồi giá bao nhiêu9 phút đọc
  3. 3Bát tào phớ của ông Ngạn9 phút đọc
  4. 4Rằm tháng Tám ở Đài Thử Đá10 phút đọc
  5. 5Mẻ đậu không chịu đông10 phút đọc
  6. 6Bà khách hỏi đậu nhự ba năm9 phút đọc
  7. 7Vân trên mặt đậu10 phút đọc
  8. 8Người đàn bà tên Lắng10 phút đọc
  9. 9Chén trà của Đại trưởng lão10 phút đọc
  10. 10Thằng Chũn gánh đất9 phút đọc
  11. 11Phiên chợ mùng Một10 phút đọc
  12. 12Đêm bà Tảo đi tìm cô Lắng10 phút đọc
  13. 13Mồi của người khác10 phút đọc
  14. 14Lên núi lần thứ ba10 phút đọc
  15. 15Câu hát điểm đậu10 phút đọc
  16. 16Buổi sáng đầu tiên không có đậu9 phút đọc
  17. 17Nồi sôi dưới chân núi10 phút đọc
  18. 18Ba vòng thuận11 phút đọc
  19. 19Mồi chua11 phút đọc
  20. 20Hũ nước cái10 phút đọc

Về truyện này

Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →