AI Truyện
Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Mẻ đậu không chịu đông

Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà · Chương 5/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 5: Mẻ đậu không chịu đông

Buổi sáng đầu tiên, thằng Chũn quay cối được mười bảy vòng thì đổ nửa muỗng đậu ra ngoài.

Buổi sáng thứ hai, nó quay được ba mươi vòng, rồi ngủ gục lên thớt cối, má in hằn vân đá.

Buổi sáng thứ ba, nó nghe Đọng bảo đẩy thì hít vào, kéo thì thở ra, thử làm theo, được năm vòng thì ho sặc sụa vì hít phải bột đậu. Đọng phải vỗ lưng cho nó, vỗ tới lúc nó ho ra cả một cục bột trắng, rồi hai chú cháu ngồi cười tới mức bà Tảo trong buồng gọi vọng ra hỏi nhà có khách à.

Tới sáng thứ năm, nó quay trọn một cối không đổ ra hạt nào. Đọng đưa nó một đồng. Nó nhìn đồng tiền, không cầm.

– Chú cho em ăn đậu rán là được rồi.

– Thế thì một đồng với một miếng đậu rán.

Nó cầm cả hai, đậu rán thì ăn ngay, đồng tiền thì nhét vào ống tre giấu dưới bao đậu trong kho. Trong ống đã có đồng tiền của ngày thử đá, Rạng nhặt lại trả cho nó, bảo là đệ tử thu tiền đánh rơi.

Từ hôm rằm, Rạng mua hai mươi lăm bìa mỗi sáng. Năm bìa vân rõ nhất được lót lá chuối riêng, buộc dây lạt đỏ. Con bé không hỏi gì thêm, Đọng cũng không. Nhưng sáng nào anh cũng chọn năm bìa ấy rất lâu, lật đi lật lại dưới ánh đèn, như người ta chọn lá thư để gửi đi xa.

Vết chéo trên mặt đậu vẫn ở đấy, vẫn đậm thêm. Đọng bắt đầu để ý những đường vân khác quanh nó. Những đường nhỏ tỏa ra như rễ cây ấy, xưa nay anh tưởng là ngẫu nhiên, hóa ra không ngẫu nhiên. Có những đường ngày nào cũng ở đúng chỗ ấy, chỉ đậm nhạt khác nhau. Có một chấm tròn nhỏ ngày nào cũng nằm gần giữa bìa, hơi lệch xuống dưới, như cái rốn. Mười một năm trước, khi bắt đầu tự điểm đậu một mình, anh từng lấy giấy bản ướp lên mặt đậu, in vân ra chơi. Anh lục rương tìm, còn được ba tờ. Đặt tờ giấy cũ cạnh bìa đậu mới, các đường vân lớn trùng nhau gần hết.

Chỉ có vết chéo là mới. Và cái chấm tròn ở giữa, trên tờ giấy cũ thì đậm, bây giờ thì nhạt hẳn đi.

Sáng hai mươi tháng Tám, nồi đậu không đông.

Đọng điểm như mọi ngày. Rót nước cái thành dòng nhỏ, tay phải khuấy. Mặt nồi phải gợn lên những vẩy trắng đầu tiên sau chừng hai mươi vòng khuấy. Hai mươi vòng, không có gì. Bốn mươi vòng, vẫn trắng đục, lỏng như sữa. Anh rót thêm nửa âu. Khuấy. Nước đậu xoáy tròn, sủi bọt, không chịu kết lấy một vẩy.

Mấy hôm trước nó đông trước khi điểm. Hôm nay điểm gấp rưỡi mà không đông.

Thằng Chũn đứng cạnh, cầm đèn, nhìn mặt anh rồi nhìn mặt nồi.

– Hỏng rồi hả chú?

– Chưa. – Đọng múc thêm một âu nước cái nữa. Hũ đã vơi tới vạch ba ngón tay. Bốn mươi năm nay, chưa bao giờ hũ vơi dưới vạch năm ngón. Anh rót thêm, nhanh hơn, khuấy nhanh hơn. Mồ hôi chảy vào mắt.

Mặt nồi bắt đầu vón. Không phải vẩy, mà vón thành từng cục to như hòn sỏi, lổn nhổn, nước vàng tách ra ngay, như cháo bị chua.

Một bàn tay gầy nắm lấy cổ tay anh.

Bà Tảo đứng sau lưng anh từ lúc nào, áo cánh nâu, chân trần. Bà không nhìn anh, mà nhìn vào nồi. Bà lấy cái muôi gỗ khỏi tay anh, cầm cái âu nước cái từ tay kia sang. Bà đứng thẳng lên một chút, cái lưng còng như cái cán gáo duỗi ra được một đoạn.

– Ba vòng thuận, – bà hát, khuấy ba vòng theo chiều kim đồng hồ, rất chậm, chậm tới mức Đọng thấy được từng gợn sóng trên mặt nồi. – Một vòng nghỉ.

Bà nhấc muôi ra khỏi nồi, để yên một nhịp, đúng bằng một vòng khuấy. Rồi lại ba vòng. Tay trái bà nghiêng âu, nước cái chảy xuống thành một sợi mảnh hơn sợi chỉ khâu, mảnh tới mức dưới đèn dầu nó lấp lánh như tơ nhện.

– Rót cho bằng sợi chỉ, đông cho bằng mặt nước.

Những cục vón không tan, nhưng quanh chúng, nước đậu bắt đầu kết. Kết từng vẩy nhỏ, mịn, như hoa cau rụng. Rồi lan ra. Tới vòng thứ ba mươi mấy, nồi đậu đông, những cục vón chìm xuống đáy, mặt trên mịn trắng.

Bà Tảo đưa trả muôi cho anh. Lưng bà còng lại như cũ.

– Mày khuấy bốn vòng, – bà nói, giọng bực như mắng trẻ con. – Khuấy bốn vòng thì nó loạn. Đã bảo bao nhiêu lần.

Rồi bà quay vào buồng, vừa đi vừa hỏi Chũn là con nhà ai mà đứng đây sớm thế.

Đọng đứng nhìn nồi đậu rất lâu. Anh không nhớ mình đã khuấy bốn vòng. Nhưng anh nhớ là mình khuấy nhanh, không nghỉ. Mười một năm điểm đậu một mình, anh vẫn khuấy theo bài hát, nhưng chưa bao giờ nghĩ bài hát là cách làm. Anh tưởng nó là để ru cho tay đều.

Mẻ đậu ấy ra khuôn ít hơn mọi ngày bốn bìa. Vân rối như mớ chỉ. Vết chéo đậm như vết mực. Cái chấm tròn ở giữa gần như mất hẳn.

Trưa hôm ấy, thầy Bổng tới, mặt đỏ gay vì leo dốc.

– Năm đứa rồi anh Đọng ạ. Năm đứa say khí trong ba ngày. Đứa nhà ông thợ rèn, hai đứa nhà bên kia suối, thằng út nhà bà bán chiếu, con Mít lại bị lần nữa. Thuốc của tôi chỉ giữ được qua đêm, sáng ra lại sốt.

– Nhà nào cũng dùng nước giếng nhà cháu à thầy?

– Không. Đấy mới là chuyện. – Thầy Bổng ngồi phịch xuống ghế tre, lau trán. – Bà Ba Sắn chuyển sang nước suối từ hôm mùng năm. Nhà ông thợ rèn có giếng riêng. Nhà bên kia suối thì xưa nay vẫn dùng nước suối. Nước suối cũng ấm lên rồi. Tôi đi dọc suối từ đầu trấn xuống cuối trấn, cứ tới đoạn chảy qua phố Đầu Cầu là nước ấm nhất.

Phố Đầu Cầu. Đường chéo.

– Năm đứa nhà ở đâu thầy chỉ cho cháu được không?

Thầy Bổng chỉ. Đọng lấy than vạch lên mặt bàn gỗ một cái khung chữ nhật làm trấn, một đường cong làm suối, rồi đánh dấu năm chấm. Năm chấm nằm gần như trên một đường thẳng. Đường ấy chạy chéo từ góc trên bên phải xuống góc dưới bên trái. Nếu kéo dài lên, sẽ chạm chân núi phía sân Tụ Linh. Kéo dài xuống, sẽ cắm vào Khe Đá.

Thầy Bổng nhìn hình vẽ, rồi nhìn anh.

– Anh vẽ cái gì đấy?

Đọng không trả lời. Anh vào bếp, bê ra một bìa đậu sáng nay, đặt cạnh hình vẽ than. Thầy Bổng nhìn hai thứ, lấy tay áo dụi mắt, nhìn lại.

– Chuyện này tôi không biết, – thầy nói chậm rãi. – Tôi chỉ biết chữa bệnh. Mà bệnh này tôi chữa không nổi.

Chiều hôm ấy, Đọng làm một việc mà về sau anh cũng không nhớ rõ vì sao mình làm. Có lẽ vì mệt. Có lẽ vì sáng nay, sau khi bà Tảo điểm xong nồi đậu, anh nếm thử một ngụm nước vàng rỉ ra từ khuôn, và thấy cái nóng ran trong ngực mình mấy hôm nay dịu hẳn xuống. Anh nghĩ tới câu của ông Ngạn, nước giếng này khí bốc lên như hơi nồi. Anh nghĩ tới cách nước cái làm sữa đậu đông, kéo những thứ đang lơ lửng lại với nhau mà kết xuống.

Anh lấy nước vàng còn để trong vò từ mẻ sáng, rót ra một cái bầu, mang sang nhà bà Ba Sắn. Con Mít đang nằm, mặt đỏ, mũi nhét bông, mắt lim dim. Anh bảo bà Ba Sắn cho nó uống nửa bát, nước chua của đậu, uống được thì uống, không uống được thì thôi.

Con bé nhăn mặt vì chua, nhưng uống hết. Một khắc sau, nó vã mồ hôi đầm đìa. Hai khắc sau, nó ngồi dậy đòi ăn. Thầy Bổng tới lúc ấy, sờ trán nó, rồi ngồi im, rất lâu.

– Nước gì đây anh?

– Nước chua của đậu. Cái nước chảy ra lúc ép khuôn ấy thầy. Nhà nào làm đậu cũng có.

– Nhà nào cũng có, nhưng đâu phải nhà nào cũng chữa được say khí. – Thầy Bổng nhấp thử một ngụm, chép miệng. – Chua dịu, lại có hậu ngọt. Nước của nhà anh khác.

Tối ấy, bốn nhà kia sai người mang nồi niêu sang xin nước chua. Đọng cho không. Ngày hôm sau, năm đứa trẻ không đứa nào sốt lại. Ngày hôm sau nữa, có thêm hai đứa mới, cũng uống, cũng khỏi. Bà Ba Sắn chạy khắp phố bảo nước chua nhà anh Đọng chữa được bệnh trên núi, và người ta kéo đến, mang theo đủ thứ: bầu, lọ, ấm, cả cái nồi đồng to bằng nồi bánh chưng.

Nhưng vết chéo vẫn đậm thêm mỗi sáng. Nồi đậu ngày đông sớm, ngày không chịu đông, ngày nào cũng phải đợi bà Tảo ra cầm muôi mới yên. Mà bà thì không phải ngày nào cũng ra. Có buổi bà ngủ say không biết gì. Có buổi bà ra, đứng nhìn nồi đậu, rồi hỏi anh nồi gì thế, nấu cám lợn à.

Những buổi ấy, Đọng tự hát, tự khuấy. Ba vòng thuận, một vòng nghỉ, rót bằng sợi chỉ. Có hôm được, có hôm không. Hũ nước cái vơi dần, tới vạch hai ngón tay, vì mẻ nào cũng phải múc nhiều hơn mà trả lại thì vẫn chỉ một gáo.

Tối hai mươi lăm tháng Tám, mưa phùn. Trấn Khe Nứa tắt đèn từ sớm. Đọng đang ngồi ghi lại những đường vân lên giấy, như mỗi tối mấy hôm nay, thì nghe có tiếng gõ cổng.

Không phải ba tiếng mạnh như chấp sự Vịnh. Là tiếng gõ bằng đầu gậy, gõ thấp, gõ chậm, như người gõ không biết cổng ở đâu, gõ dò.

Anh cầm đèn ra mở. Ngoài cổng là một bà già, dáng nhỏ, đội nón lá cũ, khoác áo tơi rơm, sau lưng đeo một cái gùi tre đậy vải dầu. Mưa phùn đọng thành hạt trên vành nón. Bà ngẩng lên, và dưới ánh đèn, Đọng thấy hai mắt bà phủ một lớp màng trắng đục như lòng trắng trứng luộc.

– Nhà này có đậu nhự ủ ba năm không?

Giọng bà khàn, rõ, nói kiểu người miền xuôi.

– Dạ, nhà cháu có mấy vò bu cháu ủ. Nhưng tối rồi, bà vào nhà trú mưa đã.

Bà già không nhúc nhích. Bà hít vào, một hơi dài, mũi phập phồng, như đang ngửi không khí của cái sân phía sau lưng anh. Rồi bà thở ra, và Đọng thấy bàn tay cầm gậy của bà run lên.

– Vẫn là cái giếng ấy, – bà nói, rất khẽ. – Bốn mươi mốt năm. Vẫn chưa ai lấp được.

— Hết chương 5 —

Mục lục Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà

  1. 1Cái hũ đói lúc ba giờ sáng8 phút
  2. 2Giọt mồi giá bao nhiêu9 phút đọc
  3. 3Bát tào phớ của ông Ngạn9 phút đọc
  4. 4Rằm tháng Tám ở Đài Thử Đá10 phút đọc
  5. 5Mẻ đậu không chịu đông10 phút đọc
  6. 6Bà khách hỏi đậu nhự ba năm9 phút đọc
  7. 7Vân trên mặt đậu10 phút đọc
  8. 8Người đàn bà tên Lắng10 phút đọc
  9. 9Chén trà của Đại trưởng lão10 phút đọc
  10. 10Thằng Chũn gánh đất9 phút đọc
  11. 11Phiên chợ mùng Một10 phút đọc
  12. 12Đêm bà Tảo đi tìm cô Lắng10 phút đọc
  13. 13Mồi của người khác10 phút đọc
  14. 14Lên núi lần thứ ba10 phút đọc
  15. 15Câu hát điểm đậu10 phút đọc
  16. 16Buổi sáng đầu tiên không có đậu9 phút đọc
  17. 17Nồi sôi dưới chân núi10 phút đọc
  18. 18Ba vòng thuận11 phút đọc
  19. 19Mồi chua11 phút đọc
  20. 20Hũ nước cái10 phút đọc

Về truyện này

Hũ nước cái ở tiệm đậu phụ chân núi Ngưng Hà là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →